Thế giới hòa bình, công nghệ vì con người, tầm nhìn từ thông điệp Việt Nam tại LHQ

Ngọc Vũ/VOV.VN | 02/10/2026, 08:11

VOVLIVE - Mang đến Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 81 thông điệp mạnh mẽ về khôi phục lòng tin và quản trị chuyển đổi, Việt Nam tiếp tục khẳng định vai trò là thành viên có trách nhiệm, kiên định bảo vệ luật pháp quốc tế, hòa bình và khát vọng phát triển bao trùm, nhân văn cho mọi quốc gia.

Vì hòa bình, vì con người

Tiến sĩ Đặng Vũ Cảnh Linh, Phó Viện trưởng Viện Đào tạo, Bồi dưỡng cán bộ và Nghiên cứu khoa học - Ủy ban Trung ương Mặt Trận Tổ quốc Việt Nam chia sẻ, ông tâm đắc với 3 vấn đề Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đặt ra trong bài phát biểu tại Phiên thảo luận cấp cao Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 81 vừa qua, có sự gắn bó rất chặt chẽ với nhau: Bảo vệ hòa bình trên nền tảng tôn trọng độc lập, chủ quyền; thúc đẩy phát triển lấy con người làm trung tâm và củng cố tự chủ gắn với chủ động hợp tác quốc tế.

Xét trong tổng thể bài phát biểu, đây chính là mối quan hệ hữu cơ giữa điều kiện phát triển, mục tiêu phát triển và năng lực để thực hiện mục tiêu đó.

Thông điệp thể hiện sự kiên định nguyên tắc và tinh thần đối thoại, hợp tác trong giải quyết những vấn đề quốc tế. Hòa bình bền vững chỉ có được khi độc lập, chủ quyền và lợi ích chính đáng của các quốc gia được tôn trọng. Đối thoại cần được duy trì ngay cả khi còn bất đồng, còn hợp tác phải được xây dựng trên cơ sở bình đẳng và tuân thủ luật pháp quốc tế.

“Nội dung về Biển Đông được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nêu thể hiện rất rõ tinh thần đó. Việt Nam kiên trì giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, phù hợp với luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, đồng thời kiên quyết bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của mình. Biển và đại dương phải là không gian của hòa bình, hợp tác, kết nối và phát triển bền vững. Các yêu cầu ấy thống nhất với nhau, thể hiện trách nhiệm bảo vệ lợi ích quốc gia gắn với gìn giữ môi trường hòa bình, ổn định và hợp tác của khu vực và thế giới”, TS Đặng Vũ Cảnh Linh nhấn mạnh.

Dưới góc độ lý luận, TS Đặng Vũ Cảnh Linh ấn tượng với yêu cầu gắn tăng trưởng kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường và sinh kế của người dân. Quan điểm này thiết lập nên thước đo phát triển thực chất: Thành quả kinh tế phải mở rộng cơ hội sống, học tập, lao động và thụ hưởng cho người dân, nhất là các cộng đồng dễ bị tổn thương. Yếu tố công bằng xã hội cần được tính đến ngay từ khâu thiết kế chính sách và quá trình triển khai thực hiện.

Đây là sự nhất quán giữa quan điểm phát triển của Việt Nam và những đề xuất trên diễn đàn toàn cầu. Đặt con người ở vị trí trung tâm đồng nghĩa với việc mọi cam kết về tài chính, thương mại, khí hậu hay công nghệ phải được đánh giá qua tác động cuối cùng đối với đời sống người dân. Khoảng cách giữa một cam kết trên giấy và một cuộc sống tốt hơn cần được thu hẹp bằng nguồn lực cụ thể, cơ chế vận hành rõ ràng và trách nhiệm gắn liền.

Hành động thực tế làm nên sức thuyết phục lớn

Đánh giá cao cách bài phát biểu kết nối giữa tự chủ chiến lược với chủ động hội nhập và hợp tác bình đẳng, TS Đặng Vũ Cảnh Linh cho rằng, việc Việt Nam tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc chính là minh chứng sống động nhất. Từ một quốc gia từng nhận viện trợ tái thiết, Việt Nam đã vươn lên đóng góp nhân lực, kinh nghiệm và trách nhiệm vào công việc chung của thế giới. Sự thống nhất giữa quan điểm và hành động thực tế làm nên sức thuyết phục lớn cho thông điệp Việt Nam.

Thông điệp cốt lõi nhất được phát đi tại Phiên thảo luận cấp cao Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 81 là: Các quốc gia phải cùng chung tay định hướng sự thay đổi của thế giới theo con đường hòa bình, hợp tác và phát triển, dựa trên Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế vì lợi ích người dân.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã đặt ra một vấn đề lý luận căn bản: Sự vận động của thế giới là khách quan, nhưng hướng đi lại phụ thuộc vào nhận thức, lựa chọn và hành động có trách nhiệm của từng quốc gia. Lợi ích chính đáng của mỗi nước phải gắn với lợi ích chung, tôn trọng quyền phát triển của các dân tộc khác.

Sự chuyển dịch tương quan lực lượng, cạnh tranh lợi ích hay khác biệt thể chế hoàn toàn không phải là nguyên nhân tất yếu dẫn đến xung đột. Điều quan trọng nằm ở cách ứng xử, sự tôn trọng nguyên tắc chung, duy trì đối thoại và thực hiện cam kết. Bài phát biểu vừa nhận diện thẳng thắn các nguy cơ quốc tế, vừa khẳng định giải pháp căn cơ để ngăn ngừa đối đầu, kiến tạo tương lai.

Từ vị thế một quốc gia chủ động đóng góp cho hòa bình, thúc đẩy đối thoại và hợp tác quốc tế, việc Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh yêu cầu khôi phục lòng tin là luận điểm rất quan trọng. Lòng tin quốc tế không thể nói bằng lời mà phải bồi đắp bằng hành vi nhất quán, sự tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và việc thực thi cam kết nghiêm túc. Khi các nguyên tắc chung bị áp dụng chọn lọc, sự nghi kỵ sẽ gia tăng, hợp tác trở nên mong manh. Do đó, khôi phục lòng tin phải đi liền với củng cố nền tảng pháp lý để cùng giải quyết những thách thức vượt tầm khả năng của từng quốc gia đơn lẻ.

Bốn định hướng lớn trong bài phát biểu tạo thành một thể thống nhất hoàn chỉnh: Tôn trọng luật pháp quốc tế và khôi phục lòng tin là nền tảng cho hòa bình, hợp tác. Phát triển công bằng, nhân văn, bao trùm và bền vững khắc phục những bất bình đẳng và chia rẽ. Quản trị công nghệ có trách nhiệm giúp mở rộng cơ hội phát triển, đồng thời ngăn ngừa nguy cơ phụ thuộc mới. Củng cố chủ nghĩa đa phương và vai trò trung tâm của Liên hợp quốc là điều kiện để phối hợp hành động chung.

Trong một thế giới đầy biến động và bất định, thông điệp trong phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khẳng định bản lĩnh đối ngoại nhất quán của Việt Nam: Độc lập, tự chủ, tự cường, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa. Từ trải nghiệm lịch sử, Việt Nam hiểu sâu sắc rằng hòa bình phải được gìn giữ bằng nỗ lực bền bỉ, độc lập phải được củng cố bằng năng lực tự chủ, và phát triển lâu dài cần môi trường hợp tác ổn định. Vì thế, tiếng nói của Việt Nam tại Liên hợp quốc thể hiện sự kết nối giữa lợi ích quốc gia, dân tộc với trách nhiệm toàn cầu.

Tiến bộ công nghệ phải phục vụ con người

Một điểm nhấn mang tầm nhìn chiến lược trong bài phát biểu là việc đề cập trực tiếp đến khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo (AI), trong đó nhấn mạnh việc chủ động định hình quản trị công nghệ để phục vụ phát triển chung. Điều này hoàn toàn nhất quán với định hướng về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng, đồng thời mở rộng ra quy mô toàn cầu khi đặt phát triển công nghệ gắn liền với chủ quyền quốc gia và công bằng xã hội.

Thực tế cho thấy, tiến bộ công nghệ không tự động tạo ra công bằng xã hội. Quốc gia sở hữu hạ tầng, dữ liệu, nhân lực và năng lực nghiên cứu sẽ khai thác AI hiệu quả hơn; ngược lại, các nước thiếu điều kiện có nguy cơ tiếp tục phụ thuộc và đứng ngoài cuộc chơi quy tắc. Do đó, thể chế, chuẩn mực đạo đức và cơ chế giám sát toàn cầu phải được xây dựng song hành với tốc độ phát triển công nghệ.

Bài phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đưa ra 3 yêu cầu cấp thiết trong quản trị công nghệ. Đó là bảo đảm bao trùm quyền lợi người dân; các nước đang phát triển phải được tham gia thực chất vào việc xây dựng các quy tắc, khuôn khổ quản trị công nghệ toàn cầu, đi kèm hỗ trợ hạ tầng, nhân lực và chuyển giao công nghệ để thu hẹp khoảng cách; mục tiêu công nghệ phục vụ con người phải mang lại lợi ích cụ thể trong đời sống.

"Giá trị sâu sắc của thông điệp là đặt trách nhiệm chính trị và trách nhiệm xã hội song hành với năng lực sáng tạo công nghệ, lấy con người làm trung tâm và mục tiêu của phát triển. Thước đo của tiến bộ công nghệ phải là sự tiến bộ trong đời sống con người, thể hiện ở năng lực được nâng cao, phẩm giá được bảo vệ, cơ hội được mở rộng và chất lượng sống được cải thiện", theo TS Đặng Vũ Cảnh Linh.

Bài liên quan
Đọc tiếp

(0) Bình luận
Nổi bật VOVLIVE
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm làm việc với Ban Tuyên giáo Trung ương
VOVLIVE - Chiều 1/10, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm làm việc với Ban Tuyên giáo Trung ương và các cơ quan liên quan về tình hình tư tưởng, tâm trạng xã hội và việc phát huy sức mạnh tổng hợp của các cơ quan tuyên truyền.
Mới nhất