Đại học và doanh nghiệp: Cùng làm, cùng tạo giá trị

TS. Hoàng Ngọc Vinh/VOV.VN | 26/09/2026, 10:05

VOVLIVE - Nghị quyết 57-NQ/TW đặt đại học vào vị trí trung tâm đổi mới sáng tạo. Để chủ trương đi vào thực tế, hợp tác với doanh nghiệp không thể dừng ở ký kết, mà phải tạo ra công nghệ được sử dụng, vấn đề sản xuất được giải quyết và nhân lực được nâng lên.

Gỡ điểm nghẽn để chính sách đi vào thực tế

Thực hiện Nghị quyết 57-NQ/TW, đại học được kỳ vọng trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo, đóng góp vào tăng trưởng bằng tri thức, công nghệ và nhân lực chất lượng cao. Nhà trường có đội ngũ nghiên cứu, người học và phòng thí nghiệm; doanh nghiệp có nhu cầu đổi mới sản phẩm, điều kiện sản xuất và hiểu biết thị trường.

Hợp tác giúp hai bên cùng phát triển công nghệ, đào tạo con người qua công việc thực tế. Vai trò ấy phải được thể hiện bằng những sản phẩm khoa học, công nghệ được sử dụng, những vấn đề sản xuất được giải quyết và năng lực người học được nâng lên.

Chủ trương đã rõ, Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025 cũng mở thêm điều kiện thuận lợi. Nhưng người trực tiếp làm cần biết ai quyết định hợp tác, tiền lấy từ đâu, thiết bị được dùng chung thế nào, kết quả thuộc về ai. Phải phân biệt chỗ chưa có quy định với chỗ đã có nhưng khó vận dụng, hoặc trường chưa cụ thể hóa thành quy chế nội bộ. Không thể xem ban hành văn bản là đã giải quyết xong công việc.

Tháng 7/2026, lãnh đạo Đại học Bách khoa Hà Nội phản ánh những vướng mắc về thủ tục, định giá tài sản trí tuệ và phân chia lợi ích, dù trường đã hình thành các thiết chế hỗ trợ thương mại hóa. Trường hợp này cho thấy cần theo sát khả năng thực hiện chính sách tại cơ sở. Có công nghệ và đối tác muốn đầu tư vẫn chưa đủ nếu người làm chưa biết quyết định thế nào cho đúng.

Ngân hàng Thế giới, trong báo cáo tháng 9/2025 về nhân lực công nghệ cao Việt Nam, chỉ ra hợp tác nghiên cứu và phát triển (R&D) giữa trường và doanh nghiệp còn hạn chế; giảng viên thiếu động lực, kinh phí làm nghiên cứu ứng dụng; thiếu hạ tầng chế thử khiến kết quả khó đi tiếp đến sản xuất. Những hạn chế ấy cho thấy khoảng cách giữa mong muốn gắn kết và điều kiện để cùng làm việc.

Hợp tác dễ trở thành khẩu hiệu nếu ký kết xong mà thiếu người làm, thiếu kinh phí, thiếu bài toán chung. Tuyển dụng, thực tập, tài trợ thiết bị đều cần, nhưng chưa đủ chứng minh chiều sâu R&D. Cần xem hai bên cùng phát triển công nghệ gì, doanh nghiệp sử dụng ra sao, người học được tham gia và trưởng thành thế nào.

Quan hệ giữa đại học và doanh nghiệp cần bình đẳng, tôn trọng nhau, không có “cửa trên, cửa dưới”; hai bên cùng vun đắp và bảo đảm lợi ích của nhau thì hợp tác mới bền vững.

Cùng đầu tư, cùng làm để tạo giá trị

Doanh nghiệp không nên ngồi chờ đại học mang đề tài đến giới thiệu. Sức ép cạnh tranh sản phẩm phải thúc đẩy doanh nghiệp xác định công nghệ còn thiếu, quy trình cần cải tiến, rồi tìm nhóm nghiên cứu phù hợp. Muốn có giải pháp dùng được, doanh nghiệp cần cử người cùng làm, cung cấp dữ liệu, bố trí thử nghiệm và góp kinh phí theo thỏa thuận. Đại học cũng phải tìm hiểu sản xuất, biết mình có thể đáp ứng đến đâu, tránh hứa vượt năng lực.

Quan hệ có đi có lại phải rõ ngay từ đầu. Trường nhận được kinh phí, bài toán nghiên cứu, dữ liệu và cơ hội đào tạo. Doanh nghiệp có thêm giải pháp, nhân lực và năng lực phát triển sản phẩm. Mức đóng góp không nhất thiết ngang nhau, nhưng quyền lợi phải tương xứng với thỏa thuận. Trường cần công bố, doanh nghiệp có thể cần bảo mật; nghiên cứu có độ bất định, sản xuất chịu sức ép tiến độ. Những khác biệt ấy cần được bàn trước khi bắt tay làm.

Hai bên có thể bắt đầu bằng một dự án vừa sức để hiểu cách làm việc và kiểm chứng năng lực của nhau. Từ đó, xây dựng chương trình hợp tác nhiều năm, chọn vấn đề ưu tiên, xác định người phụ trách, nguồn lực và các mốc đánh giá. Chiến lược của doanh nghiệp cần nêu nhu cầu nghiên cứu phục vụ cạnh tranh; chiến lược của trường phải dành đội ngũ và kinh phí tương ứng. Mỗi trường chọn lĩnh vực phù hợp, kể cả những cải tiến thiết thực cho doanh nghiệp địa phương. Doanh nghiệp nhỏ có thể hợp tác theo nhóm ngành để chia sẻ chi phí và chuyên môn.

Ở Trung Quốc, mô hình viện nghiên cứu chung của Đại học Thanh Hoa phân rõ đóng góp: trường cung cấp đội ngũ, thiết bị sẵn có; doanh nghiệp góp kinh phí, thiết bị mới và nhân sự. Ban quản lý gồm đại diện hai bên lựa chọn các dự án, phân bổ kinh phí và lập kế hoạch triển khai. Việt Nam có thể tham khảo cách cùng đầu tư, cùng quyết định này, gắn với đầu mối đủ thẩm quyền và cơ chế bàn giao khi thay đổi nhân sự.

Giảng viên dành nhiều tháng cùng doanh nghiệp thử nghiệm cần được ghi nhận trong khối lượng công việc và đánh giá thành tích. Sinh viên, nghiên cứu sinh có thể tham gia dự án, được chuyên gia hai bên hướng dẫn và đánh giá. Bài toán thực tế giúp người học hiểu yêu cầu chất lượng, tiến độ và trách nhiệm nghề nghiệp. Nhà trường vẫn phải bảo đảm kiến thức nền tảng, khả năng học tiếp và thích ứng lâu dài.

Nhà nước cần hỗ trợ những khâu hai bên khó tự trang trải, nhất là chế thử, kiểm chứng công nghệ và hạ tầng dùng chung; đồng thời làm rõ cách vận dụng quy định về tài sản trí tuệ, chia sẻ lợi ích và rủi ro. Kết quả cần được theo dõi sau nghiệm thu, qua công nghệ được sử dụng, cải thiện trong sản xuất và năng lực người học. Nghiên cứu cơ bản vẫn cần nguồn lực ổn định, không thể buộc mọi đề tài sinh doanh thu ngay.

Khi doanh nghiệp muốn tiếp tục đặt hàng vì sản phẩm tốt hơn, nhà khoa học có điều kiện theo đuổi nghiên cứu và người học trưởng thành từ dự án chung, hợp tác mới có nền tảng đi đường dài.

Bài liên quan
Đọc tiếp

(0) Bình luận
Nổi bật VOVLIVE
Toàn quyền Canada chủ trì chiêu đãi trọng thể Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm
Tối 24/9 (theo giờ địa phương), tại Nhà Quốc hội Canada, thủ đô Ottawa, Toàn quyền Canada Louise Arbour chủ trì chiêu đãi trọng thể Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm thăm cấp Nhà nước tới Canada. Cùng dự có Thủ tướng Canada Mark Carney; đại biểu cấp cao hai nước Việt Nam và Canada.
Mới nhất