Tại Chung kết cuộc thi Khởi nghiệp Xanh lần thứ 12 năm 2026 diễn ra ở TP.HCM, một trong những xu hướng đáng chú ý là biến những thứ từng bị xem là rác thải, phế phẩm thành nguyên liệu đầu vào cho sản xuất.
Không chỉ dừng ở ý tưởng bảo vệ môi trường, nhiều dự án đã bước đầu đưa sản phẩm ra thị trường, tiếp cận khách hàng trong và ngoài nước.
Khởi nghiệp xanh từ những thứ bị bỏ đi
Sau 7 năm nghiên cứu, anh Trịnh Công Qui (27 tuổi, quê Gia Lai), nhà sáng lập BioWraps, đã phát triển sản phẩm bao bì sinh học từ vỏ trái cây, hướng đến thay thế một phần túi nylon truyền thống.
Ý tưởng bắt đầu khi anh Qui cùng các cộng sự còn đang là sinh viên năm thứ nhất Trường Đại học Nguyễn Tất Thành. Tiếp cận nguồn phế phẩm nông nghiệp lớn tại Đồng bằng sông Cửu Long, nhóm nhận thấy vỏ cam sành sau chế biến thường bị bỏ đi với số lượng lớn.

Ban đầu, nhóm thử nghiệm tận dụng vỏ cam để sản xuất tinh dầu và chất tẩy rửa sinh học. Tuy nhiên, lượng phế phẩm quá lớn khiến hướng đi này khó giải quyết triệt để bài toán môi trường.
Nhóm quyết định chuyển sang nghiên cứu vật liệu bao bì sinh học, một lĩnh vực đòi hỏi nhiều thời gian và công sức hơn. Từ hàng nghìn giờ thử nghiệm, tối ưu công thức và làm việc với chuyên gia, sản phẩm BioWraps chính thức ra mắt thị trường đầu năm 2025.
Cốt lõi công nghệ của dự án là cellulose chiết xuất từ vỏ cam sành, kết hợp với các polymer phân hủy sinh học như PLA, PVA và nano bạc kháng khuẩn. Từ nguồn nguyên liệu này, doanh nghiệp phát triển các dòng hạt nhựa sinh học, túi sinh học và màng bọc sinh học phục vụ đóng gói.
Theo anh Qui, sản phẩm có khả năng phân hủy trong khoảng 6 tháng ở điều kiện phù hợp, không để lại vi nhựa gây hại cho môi trường. Nhóm cũng nghiên cứu dòng bao bì có khả năng tự tan trong nước nhằm giảm nguy cơ gây tắc nghẽn hệ thống thoát nước đô thị.
“Ngoài yếu tố môi trường, sản phẩm cũng đáp ứng yêu cầu sử dụng thực tế như độ bền, khả năng chống thấm và tính an toàn khi tiếp xúc thực phẩm. Chúng tôi có thể tùy chỉnh sản phẩm theo nhu cầu, như thiết kế túi chịu tải 2kg, 5kg hoặc 7kg”, anh Qui cho biết.

Từ ý tưởng khởi nghiệp trong giảng đường, BioWraps hiện có công suất khoảng 200 tấn mỗi tháng. Với tỷ lệ vỏ cam chiếm khoảng 45% thành phần nguyên liệu, nếu vận hành hết công suất, doanh nghiệp cần khoảng 90 tấn vỏ cam mỗi tháng.
Ngoài vỏ cam sành, anh Qui và các cộng sự còn nghiên cứu, phát triển nhiều dòng sản phẩm bao bì, hộp đựng thực phẩm, ly… từ bã mía và các loại phụ phẩm khác. Các sản phẩm không chỉ hướng đến thay thế bao bì nhựa truyền thống mà còn mở rộng lựa chọn đóng gói thân thiện với môi trường.
Đến nay, sản phẩm đã được xuất khẩu sang 15 quốc gia, cho thấy tiềm năng thương mại của các giải pháp bao bì phân hủy sinh học.
Một hướng khai thác phụ phẩm khác được giới thiệu tại cuộc thi Khởi nghiệp Xanh 2026 là dự án ứng dụng công nghệ nhiệt phân tuần hoàn.
Thay vì chỉ tận dụng gáo dừa để sản xuất than theo phương pháp truyền thống, nhóm dự thi đã nghiên cứu công nghệ thu hồi khí phát sinh trong quá trình nhiệt phân, sau đó tái sử dụng làm nhiên liệu cho lò đốt.

Anh Nguyễn Hoàng Tú, thành viên của dự án, cho biết công nghệ này sử dụng lò nhiệt phân để xử lý phụ phẩm nông nghiệp hoặc gáo dừa, tạo ra than phục vụ xuất khẩu và than sinh học phục vụ nông nghiệp.
Quá trình vận hành bắt đầu bằng việc đốt nóng sinh khối để tạo khí gas. Lượng khí này được ngưng tụ, chiết xuất thành giấm gỗ; phần khí không ngưng tụ được thu hồi, đưa trở lại làm nhiên liệu duy trì nhiệt cho lò. Khí thải phát sinh cũng được xử lý trước khi thải ra môi trường.
“Điểm đặc biệt của công nghệ là quá trình tuần hoàn và tận dụng lại nguồn khí sinh ra trong quá trình nhiệt phân, qua đó hạn chế phát thải và nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng”, anh Tú nói.
Hiện anh Tú và các cộng sự đang phát triển hai dòng sản phẩm chính. Dòng than đốt được sản xuất từ gáo dừa, tre và củi, phục vụ thị trường xuất khẩu. Bên cạnh đó là than sinh học (biochar), được chế biến từ nhiều loại phụ phẩm nông nghiệp như vỏ trấu, vỏ sầu riêng, vỏ mắc ca, vỏ dừa, bã mía, vỏ và hạt xoài.

Điểm khác biệt của công nghệ nằm ở khả năng tận dụng năng lượng ngay trong quá trình sản xuất. Theo anh Tú, hàm lượng carbon trong than gáo dừa của doanh nghiệp đạt khoảng 80-85%, trong khi than sản xuất bằng lò thủ công truyền thống thường ở mức 70-75%.
Hiệu suất sử dụng nguyên liệu là một lợi thế khác. Với khoảng 3,3 tấn gáo dừa, doanh nghiệp có thể sản xuất 1 tấn than thành phẩm. Trong khi đó, các lò truyền thống cần khoảng 3,5-4 tấn gáo dừa để tạo ra lượng than tương đương.
Một mẻ nhiệt phân sử dụng khoảng 8 tấn gáo dừa có thể thu được 2,4 tấn than thành phẩm. Thời gian đốt một mẻ khoảng 6 tiếng, trong đó giai đoạn đầu cần khoảng 200kg củi để tạo nhiệt. Khi khí gas được sinh ra, doanh nghiệp chuyển sang tận dụng chính lượng khí này để duy trì hoạt động của lò.
“Thay vì để các phụ phẩm nông nghiệp bị chôn lấp hoặc xử lý theo cách có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường, công ty sử dụng công nghệ nhiệt phân để chuyển hóa chúng thành than sinh học”, anh Tú chia sẻ.


Vỏ sầu riêng, gáo dừa và nhiều phụ phẩm nông nghiệp được tận dụng làm nguyên liệu sản xuất than sinh học.
Từ ý tưởng khởi nghiệp đến bài toán thị trường
Năm nay, chung kết Khởi nghiệp Xanh 2026 còn ghi nhận nhiều dự án tìm cách khai thác nguồn nguyên liệu từng ít được chú ý.
Trong số 34 dự án đến từ 18 tỉnh, thành phố, nhóm dự án liên quan đến kinh tế tuần hoàn và xử lý phụ phẩm có nhiều cách tiếp cận khác nhau.
Coffeenergy nghiên cứu phát triển pin hữu cơ từ bã cà phê; dự án tại Đắk Lắk chuyển hóa vỏ sầu riêng thành biochar, giấm gỗ và phân bón hữu cơ bằng công nghệ nhiệt phân yếm khí tuần hoàn; lưới xanh hướng đến tái sinh lưới đánh cá đã qua sử dụng.
Điểm chung của các dự án là không xem phụ phẩm đơn thuần như chất thải cần loại bỏ mà tìm cách đưa chúng trở lại chu trình sản xuất. Tuy nhiên, mỗi hướng đi có những yêu cầu riêng về công nghệ, vốn đầu tư, nguồn nguyên liệu và thị trường tiêu thụ.
Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan cho rằng, nhiều nguồn nguyên liệu tưởng chừng bị bỏ đi vẫn có thể được khai thác, chế biến thành hàng hóa có giá trị, qua đó tạo thêm việc làm và sinh kế cho nhiều đối tượng.
“Nhiều thứ tưởng là phế liệu bỏ đi lại thành hàng hóa, tạo công ăn việc làm cho nhiều đối tượng khác nhau”, bà Chi Lan nhận định.
Tuy nhiên, bà nhấn mạnh việc tham gia và đạt kết quả tại cuộc thi không nên được xem là đích đến của các dự án. Đây mới chỉ là bước khởi đầu để các nhóm tiếp tục học hỏi, hoàn thiện ý tưởng và tìm hướng phát triển bền vững.

Theo bà Vũ Kim Anh, Phó Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Kinh doanh và Hỗ trợ Doanh nghiệp (BSA), trong quá trình đồng hành cùng các dự án, đơn vị đã tổ chức nhiều chương trình tập huấn, tọa đàm và khóa học chuyên đề về phát triển sản phẩm, thiết kế bao bì, truyền thông số, mở rộng thị trường.
Các chương trình xúc tiến cũng tạo cơ hội để doanh nghiệp khởi nghiệp bán hàng, tiếp cận người tiêu dùng và kết nối với đối tác.
Từ vỏ cam, gáo dừa đến nhiều phụ phẩm nông nghiệp khác, những mô hình khởi nghiệp xanh cho thấy nguồn tài nguyên có thể được khai thác theo những cách mới, tạo ra giá trị thiết thực cho sản xuất và đời sống.
Với sự sáng tạo, nỗ lực hoàn thiện công nghệ và khả năng kết nối thị trường, những ý tưởng này có thêm cơ hội phát triển thành các mô hình kinh doanh bền vững, góp phần thúc đẩy kinh tế tuần hoàn và nâng cao giá trị nông sản Việt.
Vòng chung kết cuộc thi Khởi nghiệp Xanh lần thứ 12 năm 2026 diễn ra trong hai ngày 31/10 và 1/11 tại Hội trường Thống Nhất (Dinh Độc Lập), TP.HCM, với sự tham gia của 34 dự án đến từ 18 tỉnh, thành phố trên cả nước.
Các dự án tập trung vào khai thác giá trị nông sản bản địa, chế biến sâu, tận dụng phụ phẩm nông nghiệp, phát triển vật liệu xanh, xử lý chất thải và ứng dụng công nghệ trong sản xuất, kinh doanh.
Cuộc thi do Trung tâm Nghiên cứu Kinh doanh và Hỗ trợ Doanh nghiệp (BSA) phối hợp với Hiệp hội Doanh nghiệp Hàng Việt Nam Chất lượng cao cùng các đơn vị đồng hành tổ chức.
Bên cạnh hoạt động đánh giá, lựa chọn dự án, chương trình hướng đến hỗ trợ các nhóm khởi nghiệp hoàn thiện sản phẩm, kết nối chuyên gia, doanh nghiệp, mở rộng thị trường và từng bước phát triển mô hình kinh doanh bền vững.








