Để tìm hiểu về nhìn nhận của cộng đồng người Việt Nam tại Australia về Nghị quyết 23, phóng viên Đài TNVN thường trú tại Australia đã phỏng vấn GS Chu Hoàng Long, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu chính sách Việt Nam tại Đại học Quốc gia Australia, Phó Chủ tịch Hội Trí thức và Chuyên gia Việt Nam - Australia.
Khơi thông nguồn lực trí thức kiều bào
PV: Bộ Chính trị vừa ban hành Nghị quyết 23 về công tác người Việt ở nước ngoài, trong đó lần đầu tiên xác định người Việt Nam ở nước ngoài không chỉ là bộ phận không thể tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam mà còn là một trong những nguồn lực chiến lược quan trọng, góp phần nâng cao sức mạnh tổng hợp quốc gia. Ông cảm nhận như thế nào về điều này? Sự khẳng định này có ý nghĩa như thế nào với cộng đồng người Việt đang sinh sống và làm việc ở nước ngoài?
GS Chu Hoàng Long: Nghị quyết 23 thể hiện một sự thay đổi có chiều sâu về tư duy và cách tiếp cận đối với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Không chỉ tiếp tục khẳng định người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam, Nghị quyết 23 còn xác định đây là một trong những nguồn lực chiến lược quan trọng của đất nước, cho thấy một bước phát triển mới trong cách nhìn nhận về vai trò của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Từ việc chủ yếu kêu gọi, gắn kết và vận động, cách tiếp cận mới nhấn mạnh hơn đến việc đồng hành, tạo cơ chế và điều kiện để người Việt Nam ở nước ngoài tham gia trực tiếp và sâu rộng hơn vào quá trình xây dựng và phát triển đất nước.
Điều này đặc biệt có ý nghĩa khi Việt Nam đang bước vào một giai đoạn phát triển mới, với khát vọng trở thành một quốc gia phát triển, có thu nhập cao. Để thực hiện được mục tiêu đó, Việt Nam cần huy động được không chỉ các nguồn lực trong nước mà cả trí tuệ, kinh nghiệm, công nghệ và mạng lưới quốc tế của người Việt Nam trên khắp thế giới.
Nguồn lực của người Việt Nam ở nước ngoài không chỉ giới hạn trong phạm vi tài chính. Trong một thế giới ngày càng toàn cầu hóa, tri thức, khoa học và công nghệ, kinh nghiệm quản trị và mạng lưới quốc tế có thể còn quan trọng hơn. Nhiều người Việt Nam ở nước ngoài đang làm việc trong các trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp, cơ quan chính phủ và các tổ chức quốc tế. Họ có điều kiện tiếp cận với những tri thức, công nghệ và phương thức quản trị tiên tiến, và vì vậy có thể trở thành những cầu nối tri thức rất quan trọng giữa Việt Nam và thế giới.
Tôi cũng muốn nhìn vấn đề này từ một góc độ cụ thể. Việt Nam hiện là một nước có thu nhập trung bình và đang hướng tới một mức thu nhập bình quân đầu người cao. Nếu nhìn từ góc độ của quá trình phát triển về cơ bản, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài đã thành công trong một hành trình tương tự. Phần lớn cộng đồng người Việt ở nước ngoài đã và đang hòa nhập, sinh sống tại các quốc gia có thu nhập bình quân đầu người cao, và để có được điều này, nhiều thế hệ người Việt đã phải không ngừng học hỏi, thích nghi, nâng cao trình độ và từng bước vươn lên trên các lĩnh vực tại nước sở tại. Những kinh nghiệm từ hành trình đó, từ giáo dục, khoa học, kinh doanh đến quản trị và hội nhập xã hội cũng là một nguồn tri thức rất đáng quý đối với quá trình phát triển của Việt Nam.
Một điểm đáng chú ý nữa của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là sự phát triển đi kèm với gìn giữ bản sắc. Đây lại là một kinh nghiệm rất đáng chú ý. Nhiều thế hệ người Việt vừa hội nhập vươn lên trong những xã hội phát triển vừa nỗ lực duy trì sự gắn kết với nguồn cội, văn hóa và truyền thống Việt Nam. Chúng ta có thể thấy tiếng Việt, ẩm thực Việt Nam, các lễ hội, phong tục và nhiều giá trị văn hóa Việt Nam ngày càng hiện diện rộng rãi tại nhiều quốc gia có đông người Việt sinh sống. Kinh nghiệm về việc vừa hội nhập và phát triển, vừa duy trì và lan tỏa bản sắc Việt Nam cũng là một giá trị rất quan trọng mà cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài có thể đóng góp.
Vì vậy, ý nghĩa lớn của Nghị quyết 23 không chỉ nằm ở việc ghi nhận vị trí và những đóng góp của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, mà quan trọng hơn là mở ra một cách tiếp cận mới: Làm thế nào để biến tiềm năng đó thành những đóng góp cụ thể cho đất nước thông qua những cơ chế thực chất, cởi mở và linh hoạt.
Nếu tạo được những điều kiện như vậy, hơn 6,5 triệu người Việt Nam ở nước ngoài không chỉ là một cộng đồng luôn hướng về quê hương, mà thực sự có thể trở thành một nguồn lực về tri thức, kinh nghiệm, mạng lưới và văn hóa, góp phần vào sức mạnh tổng hợp của Việt Nam và đồng hành cùng đất nước trên con đường trở thành một quốc gia phát triển, đồng thời vẫn gìn giữ và phát huy được những giá trị và bản sắc của mình.
PV: Một điểm đáng chú ý khác của Nghị quyết 23 đó là đề cao tinh thần hòa hợp dân tộc, xóa bỏ định kiến, gác lại quá khứ, hướng tới tương lai; đồng thời khẳng định Đảng, Nhà nước luôn lắng nghe những ý kiến đóng góp xây dựng vì lợi ích quốc gia-dân tộc. Theo ông, thông điệp này có ý nghĩa như thế nào đối với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài trong việc củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc?
GS Chu Hoàng Long: Hòa hợp dân tộc là một trong những thông điệp rất quan trọng và có chiều sâu của Nghị quyết 23. Trước hết chúng ta cần nhìn vào điểm tương đồng và mục tiêu chung. Tuyệt đại đa số người Việt Nam ở nước ngoài đều mong muốn Việt Nam phát triển, đất nước ngày càng giàu mạnh và đời sống của người dân ngày càng tốt hơn. Đây chắc chắn cũng chính là mục tiêu mà các nhà lãnh đạo của Việt Nam đang hướng tới, và cũng là mong muốn của người dân trong nước. Nói một cách đơn giản, một Việt Nam phát triển, phồn vinh và tốt đẹp là mong muốn chung của người Việt Nam, dù đang sinh sống ở trong nước hay ở nước ngoài.
Khi chúng ta bắt đầu từ mục tiêu chung đó thì những khác biệt về hoàn cảnh sống và trải nghiệm cụ thể không nhất thiết phải trở thành khoảng cách. Ngược lại, chính sự khác biệt về trải nghiệm và góc nhìn đôi khi lại có thể tạo thêm giá trị. Những người sống lâu năm ở Australia, Mỹ, châu Âu hay Nhật Bản có thể có cách nhìn rất khác nhau về một vấn đề cụ thể của Việt Nam, và khác cả với cách nhìn của đồng bào đang sống trong nước. Điều quan trọng là cùng hướng những góc nhìn khác nhau đó vào mục tiêu chung là sự phát triển của đất nước. Tôi cho rằng đây chính là một nền tảng rất quan trọng để củng cố khối đại đoàn kết dân tộc.

Từ trải nghiệm cá nhân, tôi nhận thấy các lãnh đạo Việt Nam thể hiện tinh thần cầu thị và sẵn sàng lắng nghe những ý kiến đóng góp từ người Việt Nam ở nước ngoài. Tôi xin lấy một ví dụ cụ thể. Tháng 8 vừa qua, chỉ ít ngày sau khi Nghị quyết 23 được ban hành, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm có chuyến thăm cấp Nhà nước tới Australia. Tôi có cơ hội trực tiếp trao đổi và đưa ra một số đề xuất, trong đó có những sáng kiến nhằm tăng cường kết nối, phát huy và ghi nhận những đóng góp của các nhà khoa học người Việt Nam ở nước ngoài. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm rất chú ý lắng nghe, trực tiếp trao đổi về nội dung của từng ý kiến, và sau đó giao cho các cơ quan liên quan nghiên cứu, triển khai. Các cơ quan được giao triển khai cũng tiếp tục liên hệ với tôi để trao đổi về quá trình thực hiện.
Đó không phải là trải nghiệm duy nhất. Trong quá trình nghiên cứu và làm việc tại Đại học Quốc gia Australia, tôi đã có nhiều dịp trao đổi, đề xuất và kiến nghị với các lãnh đạo Việt Nam ở những cấp khác nhau, từ Chính phủ đến các bộ, ngành và địa phương. Điều tôi cảm nhận khá rõ là tinh thần cầu thị, sự chân thành và mong muốn lắng nghe những ý kiến đóng góp đa dạng.
Việc lãnh đạo lắng nghe những ý kiến đóng góp xây dựng là rất quan trọng đối với hòa hợp và đại đoàn kết dân tộc vì nó có thể chạm tới động lực bên trong của mỗi người Việt Nam ở nước ngoài. Khi một người cảm nhận rằng kiến thức, kinh nghiệm và năng lực của mình được trân trọng, được lắng nghe, thì sự gắn kết với quê hương sẽ trở nên tự nhiên và mạnh mẽ hơn. Khi đó, đóng góp không chỉ xuất phát từ lời kêu gọi hay trách nhiệm, mà trở thành mong muốn tự thân được làm một điều gì đó có ích cho quê hương.
Kết nối kiều bào, vun đắp đại đoàn kết dân tộc
PV:Theo giáo sư, Việt Nam cần làm những việc cụ thể gì để tạo ra môi trường và cơ chế thích hợp nhằm khuyến khích người Việt Nam ở nước ngoài tham gia sâu hơn và việc xây dựng và phát triển đất nước?
Một trong những ý nghĩa lớn của Nghị quyết 23 là mở ra một cách tiếp cận mới: Không chỉ vận động người Việt Nam ở nước ngoài đóng góp, mà quan trọng hơn là làm thế nào để tạo ra những cơ chế thực chất, cởi mở và linh hoạt để họ có thể đóng góp kiến thức, kinh nghiệm và năng lực của mình cho sự phát triển của đất nước.
Trước hết, cần có những cơ chế tham gia cụ thể và linh hoạt, phù hợp với điều kiện rất khác nhau của người Việt Nam ở nước ngoài. Chúng ta không nên quan niệm rằng phải trở về Việt Nam sinh sống và làm việc lâu dài mới là đóng góp. Một nhà khoa học hay chuyên gia đang làm việc ở nước ngoài hoàn toàn có thể tham gia một dự án nghiên cứu, một nhóm tư vấn chính sách, đào tạo cán bộ và sinh viên, chuyển giao công nghệ, hỗ trợ một doanh nghiệp hay kết nối Việt Nam với các mạng lưới quốc tế. Công nghệ hiện nay càng làm cho những hình thức đóng góp như vậy trở nên dễ dàng hơn. Điều quan trọng là phải có những cơ chế để những đóng góp đó diễn ra thường xuyên, thuận lợi và có hiệu quả, thay vì chỉ thông qua những hoạt động riêng lẻ.
Thứ hai, cần xây dựng cơ chế kết nối hiệu quả để đưa đúng người đến đúng vấn đề. Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài rất lớn và đa dạng về chuyên môn, kinh nghiệm cũng như mạng lưới. Trong khi đó, Việt Nam cũng đang có rất nhiều bài toán cụ thể cần giải quyết, từ khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, giáo dục đến quản trị và phát triển kinh tế. Vì vậy, cách làm hiệu quả không phải chỉ là hỏi “Kiều bào có thể đóng góp gì?”, mà cần đồng thời đặt câu hỏi “Việt Nam đang cần giải quyết vấn đề gì và ai là người có thể giúp giải quyết vấn đề đó?”. Các mạng lưới trí thức, trường đại học, viện nghiên cứu, hiệp hội nghề nghiệp và các tổ chức của người Việt Nam ở nước ngoài có thể đóng vai trò rất quan trọng trong việc tạo ra những kết nối như vậy.
Thứ ba, có lẽ quan trọng nhất là xây dựng một môi trường thực sự thuận lợi cho sự đóng góp. Điều này bao gồm sự cởi mở và minh bạch, thủ tục đơn giản, giảm những rào cản hành chính không cần thiết, đồng thời có cơ chế để các ý kiến chuyên môn được lắng nghe và những đóng góp thực chất được ghi nhận. Đối với các nhà khoa học và chuyên gia, nhiều khi điều họ cần không phải là những ưu đãi đặc biệt, mà là một môi trường trong đó chuyên môn của họ được sử dụng đúng chỗ, ý kiến của họ được xem xét nghiêm túc và họ có thể nhìn thấy kết quả từ những đóng góp của mình.
Đây cũng là điểm rất quan trọng về mặt động lực. Khi người Việt Nam ở nước ngoài thấy rằng kiến thức và kinh nghiệm mà mình tích lũy được có thể tạo ra những thay đổi cụ thể cho quê hương, mong muốn tham gia đóng góp tự nhiên mạnh mẽ hơn. Cơ chế tốt không chỉ tạo điều kiện cho những người đã muốn đóng góp, mà còn có thể khơi dậy mong muốn đóng góp ở nhiều người khác.
PV: Theo ông, sau khi Nghị quyết 23 được ban hành, cộng đồng người Việt tại Australia có thể đóng góp trên khía cạnh nào vào việc phát triển cộng đồng ở sở tại và đóng góp vào quá trình xây dựng, phát triển đất nước?
GS Chu Hoàng Long: Cộng đồng người Việt Nam tại Australia là một ví dụ rất rõ về sự hội nhập và thành công tại nước sở tại, về tiềm năng đóng góp cho sự phát triển của Việt Nam, đồng thời là một cầu nối quan trọng thúc đẩy quan hệ giữa hai quốc gia.
Hiện có khoảng 350.000 người Việt Nam sinh sống tại Australia. Với dân số Australia khoảng 27 triệu người thì cứ 1.000 người dân Australia thì có khoảng 13 người là người Việt Nam hoặc có nguồn gốc Việt Nam. Đây là một cộng đồng có quy mô đáng kể, hội nhập sâu vào xã hội Australia, ngày càng thành đạt, và có sự hiện diện rõ nét trong nhiều lĩnh vực, từ kinh doanh, giáo dục, khoa học và nghiên cứu đến các hoạt động chuyên môn và xã hội.
Theo tôi, có thể nhìn nhận sự đóng góp của cộng đồng người Việt tại Australia trên 3 phương diện.
Thứ nhất, cộng đồng người Việt cần tiếp tục đóng góp tích cực cho sự phát triển của Australia. Điều đó thể hiện qua lao động, kinh doanh, nghiên cứu, giáo dục và các hoạt động xã hội, nhưng đồng thời còn thông qua việc đóng góp vào sự đa dạng về văn hóa của Australia. Một cộng đồng người Việt thành công, hội nhập tốt, có uy tín và được xã hội sở tại ghi nhận chính là một nền tảng rất quan trọng để cộng đồng có thể đóng góp nhiều hơn cho Việt Nam.

Thứ hai, đây là một nguồn lực rất có giá trị đối với quá trình phát triển của Việt Nam. Australia là một quốc gia phát triển ở trình độ cao, nhưng điều đáng chú ý là quá trình phát triển cũng rất coi trọng các yếu tố về con người, sự hài hòa xã hội, cơ hội tiếp cận giáo dục, an sinh, và sự hỗ trợ đối với các nhóm yếu thế. Nhiều khía cạnh trong đó cũng tương đồng với khát vọng của Việt Nam về một xã hội phát triển, thịnh vượng, toàn diện và lấy con người làm trung tâm. Người Việt Nam đã học tập, sinh sống và làm việc lâu năm tại Australia có lợi thế đặc biệt: vừa hiểu những kinh nghiệm và tri thức của một quốc gia coi trọng sự phát triển toàn diện, cân bằng, vừa hiểu văn hóa, con người và điều kiện của Việt Nam. Vì vậy, họ có thể góp phần chuyển hóa những tri thức và kinh nghiệm quốc tế thành các giải pháp phù hợp hơn với bối cảnh Việt Nam.
Thứ ba, cộng đồng người Việt có thể trở thành cầu nối ngày càng vững chắc giữa Việt Nam và Australia. Quan hệ giữa hai nước đã phát triển rất tốt đẹp, đặc biệt trong những năm gần đây khi thường xuyên có sự thăm hỏi, giao lưu giữa các nhà lãnh đạo cao nhất của hai nước. Trong bối cảnh đó, hàng trăm nghìn người Việt Nam đang sinh sống tại Australia có thể tạo ra hàng trăm nghìn những kết nối tự nhiên giữa hai xã hội - trong giáo dục, khoa học, kinh doanh, văn hóa và giao lưu nhân dân. Những kết nối giữa con người với con người như vậy có thể làm cho quan hệ giữa hai quốc gia ngày càng sâu sắc, thực chất và bền vững hơn.
Một ví dụ cụ thể là Hội Trí thức và Chuyên gia Việt Nam tại Australia - VASEA, nơi kết nối các nhà khoa học, chuyên gia và những người làm chuyên môn tại Australia. Những mạng lưới như vậy có thể đóng vai trò rất quan trọng trong việc kết nối chuyên gia với các nhu cầu cụ thể của Việt Nam, thúc đẩy hợp tác nghiên cứu, giáo dục, khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và các hoạt động xã hội giữa hai nước.
Tôi tin rằng, với tinh thần mới của Nghị quyết 23 và với quan hệ Việt Nam-Australia ngày càng phát triển, tiềm năng này còn rất lớn. Điều chúng ta hướng tới không phải là lựa chọn giữa đóng góp cho Australia hay đóng góp cho Việt Nam. Một cộng đồng người Việt thành công và có đóng góp tích cực tại Australia chính là một nguồn lực của Australia, một nguồn lực của Việt Nam và đồng thời là một nguồn lực cho quan hệ giữa hai quốc gia. Tôi nghĩ đó chính là vị trí rất đặc biệt của cộng đồng người Việt Nam tại Australia trong giai đoạn hiện nay.”
PV: Xin trân trọng cảm ơn GS!








