
Dự án khai thác cát, sỏi cần được đánh giá nguy cơ sạt lở
Tại phiên thảo luận về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường, nhiều đại biểu Quốc hội đã tập trung góp ý vào quy định về đánh giá tác động môi trường (ĐTM), đăng ký môi trường, phân cấp quản lý và vận hành công trình xử lý chất thải. Đây đều là những nội dung có tác động trực tiếp đến hoạt động sản xuất, kinh doanh cũng như chất lượng môi trường sống của người dân. Điểm chung trong các ý kiến là việc đơn giản hóa thủ tục hành chính cần đi đôi với kiểm soát thực chất, xác định rõ trách nhiệm của từng cơ quan, tổ chức và cá nhân.

Góp ý về đối tượng phải thực hiện đánh giá tác động môi trường, đại biểu Phạm Văn Hòa - Đoàn ĐBQH tỉnh Đồng Tháp bày tỏ đồng tình với định hướng sửa đổi trong dự thảo Luật. Tuy nhiên, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo nghiên cứu bổ sung một số loại hình dự án có nguy cơ tác động đáng kể đến môi trường và đời sống người dân.
Theo đại biểu, thực tế thời gian qua cho thấy nhiều dự án, hoạt động sản xuất có thể gây ảnh hưởng lớn đến hệ sinh thái, môi trường và sinh kế cộng đồng. Những vấn đề như sạt lở bờ sông, bờ biển, ô nhiễm khí thải, chất thải, nước thải sinh hoạt đã nhiều lần được người dân phản ánh trong quá trình tiếp xúc cử tri. Đáng chú ý, đại biểu đề nghị quan tâm đến các dự án khai thác cát, sỏi trên sông và trên biển. Đây là hoạt động có thể tác động trực tiếp đến dòng chảy, gây sạt lở bờ sông, bờ biển và ảnh hưởng đến khu vực dân cư ven sông, ven biển.
Theo đại biểu, việc đánh giá đối với các dự án này cần tập trung làm rõ nguy cơ sạt lở, khả năng ảnh hưởng đến dòng chảy và việc bảo đảm dòng chảy được lưu thông thông suốt. Không chỉ các dự án khai thác tài nguyên, đại biểu Phạm Văn Hòa cũng đề nghị xem xét yêu cầu đánh giá môi trường đối với những cơ sở sản xuất, kinh doanh hoạt động trong khu công nghiệp, khu chế xuất nhưng có nguy cơ gây ô nhiễm lớn.
Thực tế, dù khu công nghiệp đã có báo cáo ĐTM được thẩm định, phê duyệt, từng cơ sở sản xuất bên trong vẫn có thể phát sinh khí thải, nước thải, tiếng ồn ảnh hưởng trực tiếp đến khu dân cư xung quanh. Vì vậy, cần nghiên cứu quy định cụ thể đối với những cơ sở có nguy cơ tác động môi trường lớn, bảo đảm việc kiểm soát được thực hiện trước khi cơ sở đi vào hoạt động. Đồng thời, phải phân định rõ loại hình dự án được miễn ĐTM và loại hình bắt buộc phải thực hiện thủ tục này. Đối với các dự án được miễn đánh giá tác động môi trường, đại biểu nhấn mạnh yêu cầu phải có cơ chế hậu kiểm phù hợp, không đồng nghĩa với việc được miễn trách nhiệm bảo vệ môi trường.
Không thể giao hết trách nhiệm thẩm định cho cấp xã
Một vấn đề đáng chú ý khác được đại biểu Phạm Văn Hòa đặt ra là trách nhiệm hậu kiểm đối với hoạt động đăng ký môi trường. Đại biểu đồng tình với việc giao đăng ký môi trường tại UBND cấp xã hoặc cơ quan trực tiếp có thẩm quyền nhằm giảm bớt thủ tục hành chính cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là cơ quan nào chịu trách nhiệm kiểm tra, hậu kiểm nội dung đăng ký và việc thực hiện các cam kết bảo vệ môi trường?
Theo đại biểu, không thể mặc nhiên giao toàn bộ nhiệm vụ này cho cấp xã, bởi thực tế nhiều địa phương còn gặp khó khăn về nhân lực chuyên môn và điều kiện kỹ thuật. Đặc biệt, đối với các khu công nghiệp, khu chế biến, khu chế xuất có hoạt động sản xuất tiềm ẩn nguy cơ ô nhiễm lớn, việc yêu cầu cán bộ cấp xã trực tiếp thẩm định, thanh tra, kiểm tra là rất khó khăn. Do đó, cần quy định rạch ròi lĩnh vực nào thuộc trách nhiệm cấp xã, lĩnh vực nào do cấp tỉnh và lĩnh vực nào thuộc thẩm quyền của Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Chính quyền cấp xã có trách nhiệm phối hợp, giám sát và chịu trách nhiệm liên đới theo quy định, nhưng phải có sự hỗ trợ chuyên môn từ cơ quan cấp trên.

Cùng quan điểm về yêu cầu làm rõ trách nhiệm trong quản lý môi trường, đại biểu Nguyễn Minh Tuấn - Đoàn ĐBQH tỉnh Phú Thọ cho rằng, cần thận trọng với việc phân quyền quá nhiều cho địa phương trong thẩm định ĐTM.
Đại biểu cho biết, từ kinh nghiệm thực tiễn công tác, trong năm 2024, đại biểu từng tham gia xử lý vụ việc liên quan đến sai phạm của một số cá nhân trong lĩnh vực đánh giá tác động môi trường. Qua đó, đại biểu nhận định vấn đề không chỉ nằm ở cơ chế hay quy định pháp luật, mà còn liên quan trực tiếp đến trách nhiệm và việc thực thi công vụ của chủ dự án cũng như cơ quan quản lý nhà nước.
Đại biểu khẳng định đồng tình với việc ngành tài nguyên và môi trường chủ trì công tác đánh giá tác động môi trường, thay vì giao cho các bộ quản lý chuyên ngành tự thực hiện. Bên cạnh ý kiến của người dân, vai trò của chuyên gia và hội đồng thẩm định vẫn là yếu tố quan trọng trong quá trình đánh giá.
Theo đại biểu Nguyễn Minh Tuấn, nếu phân quyền quá nhiều trong khi năng lực chuyên môn, nhân lực và trang thiết bị tại địa phương chưa đáp ứng thì chất lượng thẩm định có thể bị ảnh hưởng. Đại biểu cũng đề nghị làm rõ hơn trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong thẩm định báo cáo ĐTM, kể cả đối với các dự án ở giai đoạn tiền khả thi. Quy định cần đủ cụ thể để khi xảy ra sai phạm có thể xác định rõ trách nhiệm của từng cơ quan, cá nhân, tránh tình trạng quy định chung chung, khó xử lý.
Kiểm soát chặt công trình xử lý chất thải, tránh ô nhiễm khi tăng tải
Góp ý về dự thảo Luật, đại biểu Nguyễn Thị Thu Hà - Đoàn ĐBQH tỉnh Quảng Ninh tập trung vào thủ tục môi trường khi điều chỉnh dự án và công trình dùng chung. Theo đại biểu, dự thảo đã phân biệt giữa những thay đổi phải thực hiện đánh giá tác động môi trường, cấp giấy phép môi trường với những thay đổi do chủ dự án tự đánh giá và chịu trách nhiệm. Tuy nhiên, các tiêu chí như tăng quy mô, công suất hoặc làm thay đổi, gia tăng tác động xấu đến môi trường cần được cụ thể hóa hơn.

Thực tế, đối với các dự án mỏ, quá trình khai thác có thể phải điều chỉnh trình tự, biện pháp thi công, tuyến vận tải, hệ thống thoát nước hoặc vị trí đổ thải theo điều kiện thực tế. Một số mỏ có thể phân kỳ thành nhiều dự án, nhiều giai đoạn hoặc sử dụng chung một trạm xử lý nước thải. Nếu chỉ xác định thủ tục theo tên gọi hoặc ranh giới từng dự án sẽ khó thống nhất phạm vi đánh giá, cấp phép và trách nhiệm quản lý. Vì vậy, đại biểu đề nghị bổ sung nguyên tắc xác định thay đổi dựa trên phạm vi tác động, tải lượng ô nhiễm, mức độ rủi ro và khả năng đáp ứng của công trình bảo vệ môi trường.
Đối với quy định vận hành công trình xử lý chất thải, đại biểu Nguyễn Thị Thu Hà cho rằng việc đơn giản hóa thủ tục cần đi kèm cơ chế kiểm soát hiệu quả xử lý trong giai đoạn khởi động, chạy thử và tăng tải.
Đại biểu đề nghị bổ sung yêu cầu kiểm chứng hiệu quả xử lý theo tải thực tế, chế độ quan trắc, hồ sơ lưu giữ và biện pháp xử lý khi công trình chưa đáp ứng yêu cầu. Đồng thời, cần quy định rõ cách áp dụng đối với công trình đang vận hành thử, đang hoàn thiện hồ sơ tại thời điểm chuyển tiếp; phân biệt nghĩa vụ môi trường, nghiệm thu, bàn giao công trình và trách nhiệm theo hợp đồng.
Bên cạnh các nội dung về ĐTM và hậu kiểm, đại biểu Phạm Văn Hòa cũng đề cập khó khăn trong thu hút doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực xử lý rác thải sinh hoạt và chất thải rắn. Theo đại biểu, nhiều địa phương có nhu cầu kêu gọi đầu tư xây dựng nhà máy xử lý rác nhưng chưa thu hút được doanh nghiệp tham gia. Nguyên nhân là chi phí đầu tư, vận hành và xử lý rác thải, kể cả chế biến thành phẩm, còn cao trong khi hiệu quả kinh tế chưa thực sự hấp dẫn.
Vì vậy, đại biểu đề nghị Nhà nước cần có cơ chế, chính sách hỗ trợ rõ ràng đối với doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này. Ngoài hỗ trợ về đất đai, cần nghiên cứu các chính sách hỗ trợ vốn, thuế và những điều kiện cần thiết khác để khuyến khích đầu tư.








