
Ngày 3/11, cử tri Mỹ sẽ tham gia cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ nhằm lựa chọn toàn bộ 435 thành viên Hạ viện và 35 trong tổng số 100 ghế Thượng viện. Kết quả bỏ phiếu sẽ quyết định đảng nào nắm quyền kiểm soát Quốc hội trong hai năm tiếp theo.
Dù tên Tổng thống không xuất hiện trên lá phiếu, nhưng bầu cử giữa nhiệm kỳ thường được xem là cuộc đánh giá của cử tri đối với hiệu quả điều hành của Nhà Trắng. Lịch sử cho thấy đảng của Tổng thống đương nhiệm thường chịu tổn thất đáng kể tại Quốc hội sau mỗi cuộc bỏ phiếu.

Trong 20 cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ từ năm 1946 đến năm 2022, có tới 18 lần đảng nắm giữ Nhà Trắng mất ghế tại Hạ viện, với mức giảm trung bình khoảng 26 ghế. Chỉ có hai trường hợp đi ngược xu hướng này, gồm Đảng Dân chủ dưới thời Tổng thống Bill Clinton năm 1998 và Đảng Cộng hòa dưới thời Tổng thống George W. Bush năm 2002.
Các nhà khoa học chính trị gọi hiện tượng này là “bất lợi giữa nhiệm kỳ”, khi đảng của Tổng thống thường mất ghế do cử tri sử dụng lá phiếu để hạn chế quyền lực của Nhà Trắng.
Hạ viện: Mất ghế trong 18/20 cuộc bầu cử
Thống kê các cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ từ thời Tổng thống Harry S. Truman đến Joe Biden cho thấy Đảng Dân chủ thường chịu tổn thất lớn hơn khi nắm giữ Nhà Trắng. Trung bình, đảng này mất khoảng 29 ghế Hạ viện trong mỗi cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ, so với mức giảm khoảng 23 ghế của Đảng Cộng hòa.
Thất bại lớn nhất thuộc về Đảng Dân chủ trong cuộc bầu cử năm 2010, hai năm sau khi ông Barack Obama trở thành Tổng thống da màu đầu tiên của Mỹ. Khi đó, Đảng Dân chủ mất 64 ghế Hạ viện, khiến quyền kiểm soát cơ quan này chuyển sang Đảng Cộng hòa.
Trước đó, Đảng Dân chủ từng mất 56 ghế dưới thời Tổng thống Harry S. Truman năm 1946 và 54 ghế dưới thời Tổng thống Bill Clinton năm 1994. Cả hai lần, đảng này đều đánh mất thế đa số tại Hạ viện.
Đối với Đảng Cộng hòa, những thất bại nặng nề nhất diễn ra dưới thời Tổng thống Dwight D. Eisenhower năm 1958 khi đảng này mất 50 ghế và thời Tổng thống Gerald Ford năm 1974 mất 48 ghế.
Trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ đầu tiên dưới thời Tổng thống Donald Trump năm 2018, Đảng Cộng hòa mất 42 ghế và mất quyền kiểm soát Hạ viện vào tay Đảng Dân chủ.
Tuy nhiên, việc mất nhiều ghế không phải lúc nào cũng đồng nghĩa với mất quyền kiểm soát Hạ viện. Kết quả còn phụ thuộc vào số ghế mà mỗi đảng nắm giữ trước bầu cử. Trong 20 cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ kể từ năm 1946, Hạ viện Mỹ đã có 7 lần thay đổi đảng nắm đa số, vào các năm 1946, 1954, 1994, 2006, 2010, 2018 và 2022.
Thượng viện: Xu hướng tương tự nhưng ít biến động hơn
Tại Thượng viện, đảng của Tổng thống đương nhiệm cũng thường gặp bất lợi, song mức độ biến động về quyền kiểm soát thấp hơn so với Hạ viện. Trong 20 cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ kể từ năm 1946, có 13 lần đảng của Tổng thống mất ghế Thượng viện, nhưng chỉ 6 lần mất quyền kiểm soát cơ quan này, vào các năm 1946, 1954, 1986, 1994, 2006 và 2014.
Sự khác biệt chủ yếu xuất phát từ cơ chế bầu cử. Trong khi toàn bộ 435 ghế Hạ viện được bầu lại hai năm một lần, mỗi thượng nghị sĩ có nhiệm kỳ 6 năm và chỉ khoảng một phần ba trong tổng số 100 ghế Thượng viện được đưa ra bầu cử trong mỗi chu kỳ 2 năm. Do đó, kết quả bầu cử Thượng viện không chỉ chịu ảnh hưởng từ xu hướng chính trị trên toàn quốc mà còn phụ thuộc đáng kể vào những bang có ghế được đưa ra tranh cử.
Thất bại lớn nhất tại Thượng viện trong bầu cử giữa nhiệm kỳ thuộc về Đảng Cộng hòa dưới thời Tổng thống Eisenhower, với 13 ghế bị mất năm 1958. Đảng Dân chủ dưới thời Tổng thống Truman mất 12 ghế năm 1946, trong khi đảng này mất 9 ghế dưới thời Tổng thống Obama năm 2014, khiến quyền kiểm soát Thượng viện chuyển sang Đảng Cộng hòa.
Đáng chú ý, kết quả bầu cử tại hai viện đôi khi diễn biến theo những chiều hướng trái ngược. Năm 1982, Đảng Cộng hòa của Tổng thống Ronald Reagan mất 26 ghế Hạ viện nhưng lại giành thêm một ghế Thượng viện. Trong cuộc bầu cử năm 2018, Đảng Cộng hòa dưới thời ông Trump mất quyền kiểm soát Hạ viện nhưng tăng thêm một ghế tại Thượng viện.
Tình huống tương tự diễn ra năm 2022, khi Đảng Dân chủ của Tổng thống Joe Biden mất Hạ viện nhưng giành thêm một ghế Thượng viện.
Những kết quả này cho thấy sự bất mãn của cử tri đối với Tổng thống không nhất thiết tác động đồng đều đến cả hai viện. Một đảng có thể thất thế trong các cuộc đua Hạ viện nhưng vẫn duy trì được lợi thế tại Thượng viện nếu có nhiều ghế được bầu lại ở những bang mà đảng đó nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ của cử tri.
Mất quyền kiểm soát Quốc hội tác động thế nào đến Tổng thống?
Mất ghế tại Quốc hội và mất quyền kiểm soát một trong hai viện là hai vấn đề khác nhau, với những hệ quả chính trị không giống nhau.
Năm 1966, Đảng Dân chủ dưới thời Tổng thống Lyndon Johnson mất tới 47 ghế Hạ viện nhưng vẫn duy trì được thế đa số. Ngược lại, trong cuộc bầu cử năm 1986, Đảng Cộng hòa của Tổng thống Reagan chỉ mất 4 ghế Hạ viện nhưng lại mất quyền kiểm soát Thượng viện sau khi giảm 8 ghế tại cơ quan này.
Việc kiểm soát Hạ viện hay Thượng viện có ý nghĩa quyết định đối với khả năng thúc đẩy chương trình nghị sự của Tổng thống. Theo quy trình lập pháp Mỹ, một dự luật thông thường phải được cả hai viện thông qua trước khi chuyển đến Tổng thống ký ban hành hoặc phủ quyết. Vì vậy, nếu phe đối lập nắm đa số tại một trong hai viện, họ có thể cản trở hoặc gây khó khăn cho các kế hoạch lập pháp của Nhà Trắng.
Thế đa số tại Hạ viện còn cho phép một đảng chủ động tiến hành các cuộc điều tra và khởi động thủ tục luận tội Tổng thống. Trong khi đó, Thượng viện có quyền phê chuẩn hoặc bác bỏ nhiều đề cử nhân sự quan trọng của Tổng thống, bao gồm các thẩm phán liên bang có nhiệm kỳ trọn đời.
Trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ năm 2026, Đảng Dân chủ cần giành thêm 3 ghế để kiểm soát Hạ viện và 4 ghế để giành thế đa số tại Thượng viện.
Trường hợp hai đảng cùng nắm 50 ghế Thượng viện, Đảng Cộng hòa vẫn duy trì quyền kiểm soát do Phó Tổng thống JD Vance có quyền bỏ phiếu quyết định khi số phiếu giữa hai bên ngang nhau.
Với tương quan lực lượng sít sao hiện nay, chỉ một số ít cuộc đua cũng có thể quyết định cán cân quyền lực tại Quốc hội Mỹ trong hai năm cuối nhiệm kỳ của Tổng thống Trump.
Lịch sử cho thấy bầu cử giữa nhiệm kỳ thường là phép thử khó khăn đối với đảng nắm giữ Nhà Trắng. Tuy nhiên, liệu Đảng Cộng hòa có tiếp tục chịu bất lợi theo quy luật này hay không vẫn phụ thuộc vào lựa chọn của cử tri trong cuộc bỏ phiếu ngày 3/11.








