Trong tài liệu chuẩn bị cho phiên thảo luận tại tổ về tình hình kinh tế - xã hội tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XIV, đại biểu Nguyễn Như So đề nghị nhìn nhận tăng trưởng từ hiệu quả sử dụng nguồn lực, thay vì chỉ dựa vào quy mô vốn huy động.
Theo báo cáo của Chính phủ, GDP 9 tháng năm 2026 tăng 9,01%, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 12,3%. Để đạt mục tiêu tăng trưởng cả năm từ 10% trở lên, quý IV cần tăng khoảng 12,5%. Trong 9 tháng, hơn 172.000 doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường. Những chỉ tiêu này đặt ra yêu cầu nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực và sức cạnh tranh của khu vực sản xuất.
Từ thực tiễn đó, đại biểu đưa ra bốn nhóm kiến nghị về tài khóa và tín dụng, thu hút FDI, phát triển doanh nghiệp nông nghiệp và đầu tư phòng ngừa rủi ro khí hậu.
Vượt thu ngân sách cần đi cùng nguồn thu bền vững
Theo Báo cáo số 918/BC-CP, thu ngân sách nhà nước 9 tháng đầu năm đạt khoảng 2.187 nghìn tỷ đồng, bằng 86,5% dự toán và tăng 12,1% so với cùng kỳ năm 2025. Thu ngân sách cả năm ước đạt 3.055,7 nghìn tỷ đồng, vượt dự toán 526,3 nghìn tỷ đồng, tương đương 20,8%.
Đại biểu đề nghị đánh giá ngân sách không chỉ theo mức vượt dự toán mà còn theo khả năng duy trì nguồn thu và hiệu quả chi. Trong dự toán năm 2026, các khoản thu về nhà, đất chiếm khoảng 25% thu nội địa.
Theo tính toán trong tài liệu phát biểu từ số liệu Báo cáo số 918/BC-CP, thu nội địa từ hoạt động sản xuất, kinh doanh chiếm khoảng 51,4% phần ước vượt thu ngân sách; ba nhóm thu từ tiền sử dụng đất, dầu thô và cổ tức, lợi nhuận, thu hồi vốn nhà nước chiếm khoảng 42,7%. Đại biểu đề nghị tiếp tục bóc tách nguồn thu liên quan đến các dự án, hợp đồng PPP để đánh giá đầy đủ hơn mức đóng góp ổn định của khu vực sản xuất, kinh doanh.
Cùng làm tăng thu ngân sách, nhưng các nguồn thu khác nhau về mức độ ổn định và khả năng duy trì. Thu từ đất đai, tài nguyên và vốn nhà nước có thể biến động theo thị trường hoặc thời điểm, còn thu từ sản xuất, kinh doanh gắn với hoạt động lâu dài của doanh nghiệp và việc làm.
Khơi thông tín dụng, mở rộng kênh vốn dài hạn
Theo Báo cáo số 918/BC-CP, đến ngày 3/9/2026, dư nợ tín dụng đạt khoảng 20,45 triệu tỷ đồng, tăng 9,98% so với cuối năm 2025. Lãi suất cho vay bình quân đối với các giao dịch mới ở mức 9,12%/năm, tăng 1,03 điểm phần trăm so với cuối năm 2025. Tuy nhiên, doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa, vẫn gặp khó khăn trong tiếp cận vốn và đất đai.
Theo đại biểu, một bộ phận doanh nghiệp có đơn hàng và năng lực sản xuất vẫn khó tiếp cận vốn do thiếu tài sản bảo đảm. Vì vậy, ngân hàng cần coi trọng hơn dòng tiền, hợp đồng đầu ra và khả năng trả nợ, đồng thời đơn giản hóa hồ sơ, kết nối dữ liệu thuế, hóa đơn điện tử và lịch sử tín dụng. Khi từ chối cho vay, cần nêu rõ điều kiện doanh nghiệp chưa đáp ứng để có cơ sở khắc phục.
Đại biểu cho rằng Quỹ bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa theo Nghị định số 34/2018/NĐ-CP chưa phát huy đầy đủ vai trò cầu nối giữa doanh nghiệp và ngân hàng. Từ đó, đại biểu đề nghị nghiên cứu cơ chế Nhà nước chia sẻ một phần rủi ro với tổ chức tín dụng đối với các khoản vay có phương án sản xuất, kinh doanh khả thi nhưng thiếu tài sản bảo đảm. Chính sách cần ưu tiên các lĩnh vực chế biến, chế tạo, công nghiệp hỗ trợ, sản xuất xuất khẩu và nông nghiệp công nghệ cao, nhằm hỗ trợ doanh nghiệp vượt qua khó khăn thanh khoản ngắn hạn.
Với những doanh nghiệp đang khó khăn nhưng còn năng lực phục hồi, đại biểu đề nghị hoàn thiện cơ chế chuyển đổi nợ thành vốn góp, vốn cổ phần, tháo gỡ vướng mắc về điều kiện, thủ tục, định giá, thoái vốn, để doanh nghiệp được tái cấu trúc cả dòng tiền và nghĩa vụ nợ, thay vì chỉ xử lý tài sản sau khi khoản vay phát sinh vấn đề.
Mục tiêu không phải là duy trì bằng mọi giá những doanh nghiệp yếu kém, mà là tránh để năng lực sản xuất còn giá trị bị mất đi vì khó khăn nhất thời.
Về dài hạn, đại biểu đề nghị phát triển thị trường chứng khoán thành kênh huy động vốn trung và dài hạn, giảm phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng. Đại biểu nhắc đến dấu mốc thị trường chứng khoán Việt Nam được chuyển sang nhóm thị trường mới nổi thứ cấp, có hiệu lực từ ngày 21/9/2026.
Trong bối cảnh khối ngoại bán ròng khoảng 135.000 tỷ đồng năm 2025 và khoảng 98.300 tỷ đồng trong 9 tháng năm 2026, đại biểu đề nghị đánh giá những vướng mắc về minh bạch thông tin, quản trị doanh nghiệp niêm yết, giới hạn sở hữu nước ngoài và hạ tầng giao dịch, thanh toán để kết quả nâng hạng hỗ trợ tốt hơn việc huy động vốn dài hạn.
Ưu đãi FDI phải tạo năng lực sản xuất trong nước
Theo số liệu được dẫn trong bài phát biểu, vốn FDI đăng ký 9 tháng đạt trên 50,36 tỷ USD, tăng 76,4%. Đại biểu cho rằng việc thu hút đầu tư cần gắn với tiếp nhận công nghệ, phát triển nhà cung ứng trong nước và nâng cao năng lực tự chủ của nền kinh tế.
Đại biểu đề xuất gắn ưu đãi đầu tư với cam kết cụ thể về phát triển nhà cung ứng Việt Nam, hỗ trợ nâng cấp công nghệ, đào tạo nhân lực và cải thiện quản trị, phù hợp các cam kết quốc tế. Hiệu quả ưu đãi cần được đánh giá bằng kết quả liên kết và năng lực sản xuất hình thành trong nước.
Trong tài liệu phát biểu, đại biểu nhấn mạnh: “Mỗi đồng ưu đãi của Nhà nước phải đổi lấy năng lực sản xuất mới, công nghệ mới và sự trưởng thành của doanh nghiệp Việt Nam”.
Tổ chức lại sản xuất nông nghiệp, phát huy nguồn lực đất đai
Theo đại biểu, điểm nghẽn căn bản của nông nghiệp không nằm ở diện tích đất sản xuất, mà ở việc chưa hình thành được lực lượng doanh nghiệp đủ mạnh để tổ chức sản xuất, ứng dụng công nghệ, xây dựng thương hiệu và dẫn dắt thị trường. Nền sản xuất vẫn chủ yếu là của hàng triệu hộ nông dân nhỏ lẻ, trong khi thị trường ngày càng đòi hỏi quy mô lớn, tiêu chuẩn cao, chuỗi cung ứng ổn định và khả năng cạnh tranh quốc tế.
Đại biểu đề xuất nâng cấp mô hình hợp tác xã kiểu mới theo hướng tập hợp nguồn lực của các nông hộ, trong đó quyền sử dụng đất được định giá minh bạch để góp vốn, giúp người nông dân được hưởng lợi từ kết quả sản xuất, kinh doanh. Việc triển khai cần bảo đảm nguyên tắc tự nguyện, quyền lợi của người góp vốn, đồng thời làm rõ cơ chế định giá và quản trị.
Đại biểu cũng kiến nghị hoàn thiện hành lang pháp lý đối với tài sản đầu tư trên đất nông nghiệp, như nhà màng và hệ thống tưới tự động, để có cơ sở định giá, giao dịch và sử dụng làm tài sản bảo đảm theo quy định. Đây là điều kiện hỗ trợ tổ chức sản xuất tiếp cận vốn, ứng dụng công nghệ và nâng cao hiệu quả quản trị.
Chủ động phòng ngừa rủi ro khí hậu để bảo vệ sản xuất
Theo đại biểu, biến đổi khí hậu và thiên tai cực đoan không chỉ gây thiệt hại về người và tài sản mà còn làm gián đoạn sản xuất, đứt gãy chuỗi cung ứng. Tài liệu phát biểu dẫn ước tính thiệt hại kinh tế do thiên tai trong giai đoạn 2006–2025 bình quân tương đương khoảng 1–1,5% GDP mỗi năm, từ đó nhấn mạnh yêu cầu đầu tư phòng ngừa rủi ro.
Đại biểu kiến nghị chuyển trọng tâm từ hỗ trợ sau thiên tai sang khuyến khích đầu tư phòng ngừa thông qua chính sách tín dụng, thuế và đất đai, trong đó có đề xuất hỗ trợ lãi suất 2% cho dự án xanh, khuyến khích doanh nghiệp đáp ứng các tiêu chí về môi trường, xã hội và quản trị (ESG), đồng thời phát triển thị trường các-bon. Nguồn lực cần tập trung vào dự án vừa giảm rủi ro khí hậu vừa nâng cao năng suất.
Đầu tư phòng ngừa không chỉ bảo vệ tài sản doanh nghiệp mà còn góp phần duy trì việc làm, đơn hàng và chuỗi cung ứng, qua đó hạn chế chi phí khắc phục hậu quả.
Tăng trưởng cao cần nền tảng bền vững
Các kiến nghị cùng hướng tới sử dụng nguồn lực hiệu quả hơn: vốn đến được doanh nghiệp có khả năng tạo giá trị, ưu đãi đầu tư thúc đẩy công nghệ và liên kết trong nước, còn chính sách phòng ngừa giúp bảo vệ sản xuất trước rủi ro. Đó là nền tảng để tăng trưởng cao không chỉ là kết quả của một năm.








