Những ngày gần đây, mạng xã hội lan truyền clip ghi lại cảnh một phụ nữ và một người đàn ông có hành vi thân mật trong ô tô. Sự việc gây tranh luận về việc công khai hình ảnh để vạch trần hành vi sai trái và quyền được bảo vệ đời tư, danh dự, nhân phẩm của người xuất hiện trong clip.
Vậy việc ghi hình để lưu giữ chứng cứ có khác với phát tán clip nhạy cảm lên mạng xã hội? Ranh giới nào giữa bảo vệ quyền lợi cá nhân và hành vi xâm phạm quyền riêng tư, xúc phạm người khác?
Trao đổi với phóng viên Báo điện tử VTC News, luật sư Nguyễn Văn Hậu, Chủ tịch Trung tâm Trọng tài Thương mại Luật gia Việt Nam, cho rằng cần phân biệt rõ quyền ghi nhận sự việc để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của cá nhân với quyền công khai hình ảnh của người khác.
Ghi hình để bảo vệ quyền lợi khác với phát tán clip riêng tư
Theo luật sư Nguyễn Văn Hậu, trước hết cần xác định rõ mối quan hệ giữa những người xuất hiện trong video.
Nếu trong trường hợp họ có quan hệ hôn nhân hợp pháp, việc một bên phát hiện người còn lại có quan hệ tình cảm với người khác có thể là căn cứ để xem xét trách nhiệm trong quan hệ hôn nhân.
“Việc người chồng phát hiện vợ có quan hệ tình cảm với người khác có thể là căn cứ để xem xét trách nhiệm trong quan hệ hôn nhân, nhưng không đồng nghĩa với việc người chồng được quyền tự ý đăng tải hình ảnh, video riêng tư của vợ và người liên quan lên mạng xã hội. Pháp luật bảo vệ quyền hình ảnh, danh dự, nhân phẩm và đời tư của mỗi cá nhân”, luật sư Nguyễn Văn Hậu phân tích.

Theo luật sư, quyền hình ảnh và quyền riêng tư của cá nhân được quy định tại Điều 32 và Điều 38 Bộ luật Dân sự năm 2015. Đây là những quyền nhân thân được pháp luật bảo vệ, trong đó việc sử dụng hình ảnh của người khác về nguyên tắc phải được người đó đồng ý, trừ những trường hợp ngoại lệ do luật định.
Trong tình huống này, cần phân biệt hai hành vi là ghi hình để lưu giữ sự việc và phát tán video lên mạng xã hội. Việc ghi hình nhằm mục đích thu thập tài liệu, bảo vệ quyền lợi hợp pháp hoặc làm chứng cứ giải quyết tranh chấp cần được xem xét dựa trên hoàn cảnh, mục đích và cách thức thu thập.
Ngược lại, việc công khai video có thể làm phát sinh trách nhiệm pháp lý nếu xâm phạm quyền hình ảnh, đời sống riêng tư, danh dự và nhân phẩm của người xuất hiện trong đó.
Luật sư Hậu cho rằng người có tài liệu, video liên quan đến một vụ việc có thể cung cấp cho cơ quan có thẩm quyền để được xem xét, giải quyết. Tuy nhiên, việc có trong tay hình ảnh hoặc video không đồng nghĩa với việc được quyền phát tán nội dung đó cho cộng đồng mạng.
Đặc biệt, nếu người đăng tải có mục đích bêu riếu, gây áp lực hoặc làm tổn hại danh dự người khác, hành vi này có thể bị xem xét theo các quy định pháp luật tương ứng.
Một vấn đề khác được đặt ra là nếu những người trong video thực sự có quan hệ vợ chồng, việc một bên vi phạm nghĩa vụ chung thủy có làm mất quyền được bảo vệ về danh dự, nhân phẩm và đời tư hay không?
Theo luật sư Nguyễn Văn Hậu, đây là hai vấn đề pháp lý độc lập. Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng và quan tâm, chăm sóc lẫn nhau.
Nếu một bên vi phạm nghĩa vụ chung thủy, hành vi này có thể được xem xét là một trong những căn cứ để bên còn lại yêu cầu ly hôn theo Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Tuy nhiên, trách nhiệm trong quan hệ hôn nhân không đồng nghĩa với việc một người bị tước bỏ các quyền nhân thân được pháp luật bảo vệ.
“Pháp luật không quy định rằng một người khi vi phạm nghĩa vụ hôn nhân thì sẽ đương nhiên mất quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm và đời tư. Không thể lấy lỗi của người này làm căn cứ để hợp pháp hóa hành vi vi phạm pháp luật của người kia”, luật sư Hậu nhấn mạnh.
Như vậy, nếu có quan hệ hôn nhân hợp pháp, người bị tổn thương có thể sử dụng những căn cứ phù hợp để bảo vệ quyền lợi trong quá trình giải quyết tranh chấp gia đình. Tuy nhiên, việc công khai hình ảnh nhạy cảm của người khác nhằm trả đũa hoặc bêu riếu vẫn phải được xem xét độc lập dưới góc độ pháp luật.
Phát tán clip có thể bị xử phạt, truy cứu trách nhiệm hình sự
Phân tích về chế tài đối với hành vi đăng tải video nhạy cảm lên mạng xã hội, luật sư Nguyễn Văn Hậu cho biết, tùy tính chất vi phạm, mức độ nghiêm trọng và hậu quả thực tế, người thực hiện có thể phải chịu trách nhiệm hành chính, hình sự và dân sự.
Về xử phạt hành chính, theo nội dung luật sư viện dẫn tại Điều 101 Nghị định 15/2020/NĐ-CP ngày 3/2/2020 của Chính phủ, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 14/2022/NĐ-CP, hành vi lợi dụng mạng xã hội để xúc phạm danh dự, nhân phẩm người khác có thể bị phạt tiền từ 10-20 triệu đồng.
Trường hợp tiết lộ bí mật đời tư của cá nhân có thể bị phạt tiền từ 20-30 triệu đồng theo quy định được luật sư đề cập.

Không chỉ dừng lại ở xử phạt hành chính, người đăng tải còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu hành vi đáp ứng đầy đủ các dấu hiệu cấu thành tội phạm.
Cụ thể, hành vi xúc phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm người khác có thể bị xem xét về Tội làm nhục người khác theo Điều 155 Bộ luật Hình sự.
Trong trường hợp người đăng tải bịa đặt hoặc loan truyền thông tin mà mình biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác, hành vi có thể bị xem xét về Tội vu khống theo Điều 156 Bộ luật Hình sự.
Ngoài ra, tùy các yếu tố cấu thành tội phạm thực tế, việc công khai trái phép thông tin riêng tư trên mạng còn có thể bị xem xét theo Điều 288 Bộ luật Hình sự về Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông.
Bên cạnh trách nhiệm hành chính và hình sự, người bị xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp còn có thể yêu cầu người đăng tải chấm dứt hành vi vi phạm, gỡ bỏ video trên không gian mạng, xin lỗi, cải chính công khai và bồi thường thiệt hại theo quy định của Bộ luật Dân sự.
Tuy nhiên, luật sư Hậu lưu ý không phải cứ đăng tải hình ảnh người khác lên mạng là đương nhiên bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Việc xử lý phải căn cứ vào mục đích, tính chất, mức độ xâm phạm, hậu quả thực tế và các dấu hiệu cấu thành của từng hành vi vi phạm.
Theo luật sư Nguyễn Văn Hậu, video có thể được cung cấp cho Tòa án như một nguồn chứng cứ theo Điều 94 và Điều 95 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025.
Để bảo đảm giá trị chứng minh, dữ liệu video cần có nguồn gốc rõ ràng, xác định được người thu thập, thời gian, địa điểm và diễn biến sự việc. Người cung cấp cũng cần gửi kèm văn bản trình bày về xuất xứ video.
Tòa án sẽ đánh giá tính hợp pháp, tính liên quan và giá trị chứng minh của dữ liệu video trong quá trình giải quyết vụ việc. Do đó, người có nhu cầu bảo vệ quyền lợi trong tranh chấp hôn nhân có thể lựa chọn cung cấp tài liệu cho Tòa án thay vì công khai hình ảnh riêng tư lên mạng xã hội.








