Tàu ngầm mang máy bay và tham vọng táo bạo của Nhật Bản

Hoàng Phạm/VOV.VN | 17/08/2026, 19:01

Nhật Bản từng chế tạo tàu ngầm mang máy bay, đỉnh cao là lớp I-400 có thể mang 3 máy bay tấn công và thực hiện nhiệm vụ tầm xa.

Ý tưởng kết hợp tàu ngầm với máy bay từng được một số cường quốc hải quân theo đuổi trong thế kỷ XX. Những tàu ngầm này có thể mang theo máy bay được tháo rời trong khoang kín nước, sau đó lắp ráp và phóng bằng máy phóng khi nổi lên mặt nước. Nhật Bản là quốc gia phát triển ý tưởng này xa nhất trong Thế chiến II.

Từ ý tưởng táo bạo đến thử nghiệm thực tế

Về lý thuyết, việc kết hợp tàu ngầm với máy bay mang lại nhiều lợi thế. Tàu ngầm có khả năng hoạt động bí mật, tiếp cận bờ biển đối phương mà khó bị phát hiện, sau đó triển khai máy bay để mở rộng đáng kể phạm vi trinh sát và tấn công.

Máy bay có thể giúp thủy thủ đoàn quan sát khu vực rộng hơn, xác định vị trí mục tiêu và phát hiện các mối đe dọa, chẳng hạn máy bay đối phương. Nếu đủ lớn, máy bay còn có thể thực hiện nhiệm vụ ném bom hoặc các hoạt động tác chiến khác theo yêu cầu của tàu ngầm. Tuy nhiên, việc kết hợp hai nền tảng vốn có yêu cầu hoạt động gần như trái ngược nhau lại không hề đơn giản. Tàu ngầm phải được thiết kế để lặn nhanh và kín nước, trong khi máy bay cần được bảo quản, lắp ráp và triển khai trong điều kiện trên mặt nước.

Đức là một trong những nước đầu tiên thử nghiệm ý tưởng này. Năm 1915, nước này tìm cách đưa một thủy phi cơ Friedrichshafen FF.29 lên tàu ngầm U-12. Không lâu sau, Anh cũng tiến hành thử nghiệm tương tự với thủy phi cơ Sopwith Schneider trên tàu ngầm HMS E22.

Những thử nghiệm ban đầu có hạn chế lớn: máy bay được đặt trực tiếp trên boong, chịu tác động của sóng và thời tiết. Quan trọng hơn, việc mang máy bay bên ngoài khiến tàu ngầm không thể lặn, làm mất đi đặc tính quan trọng nhất của loại tàu này.

Trong những năm 1920, một số lực lượng hải quân bắt đầu nghiên cứu phương án đưa máy bay vào các khoang chứa kín nước.

Anh cải tiến tàu ngầm HMS M2 bằng cách tháo khẩu pháo cỡ nòng 12 inch và thay thế bằng một nhà chứa máy bay nhỏ. Tàu được trang bị thủy phi cơ Parnall Peto cùng máy phóng trên boong. Sau khi được phóng, máy bay có thể thực hiện nhiệm vụ trinh sát phía trước tàu ngầm, hạ cánh xuống mặt nước gần HMS M2 và sau đó được cần cẩu đưa trở lại tàu.

Pháp thậm chí phát triển một thiết kế lớn hơn với tàu ngầm Surcouf, khi đó là tàu ngầm lớn nhất thế giới. Surcouf được trang bị hai pháo 203 mm, 12 ống phóng ngư lôi và một khoang chứa máy bay kín nước dành cho thủy phi cơ trinh sát Besson MB-411. Máy bay chủ yếu làm nhiệm vụ trinh sát, phát hiện mục tiêu và cung cấp thông tin để Surcouf sử dụng các khẩu pháo cỡ lớn.

Tại Mỹ, tàu ngầm S-1 cũng được sử dụng để thử nghiệm ý tưởng này. Tàu mang một thủy phi cơ Martin MS-1 được tháo rời và đặt bên trong một khoang hình trụ trên boong.

Các thiết kế trên đều có thể hoạt động, nhưng không trường hợp nào chứng minh được rằng những lợi ích đạt được đủ lớn để bù đắp chi phí và sự phức tạp về kỹ thuật.

Kế hoạch bất thành của Nhật Bản

Nhật Bản là quốc gia theo đuổi ý tưởng tàu ngầm mang máy bay mạnh mẽ nhất trong giai đoạn trước và trong Thế chiến II. Nước này đã hoàn thiện hơn 40 tàu ngầm có khả năng mang máy bay với nhiều biến thể khác nhau.

Các thiết kế ban đầu của Nhật Bản chủ yếu sử dụng máy bay trinh sát cỡ nhỏ, có thể tháo rời và cất giữ trong những khoang chứa kín nước. Một trong những loại máy bay đáng chú ý là Yokosuka E14Y.

Việc trang bị máy bay giúp tàu ngầm mở rộng đáng kể phạm vi trinh sát so với khả năng quan sát hạn chế từ tháp chỉ huy. Máy bay có thể bay xa khỏi tàu, thu thập thông tin về mục tiêu rồi trở về khu vực tàu ngầm hoạt động.

Nhật Bản sau đó phát triển những tàu ngầm lớn hơn nhiều, tiêu biểu là lớp I-400. Đây là những tàu ngầm có kích thước đặc biệt lớn, được thiết kế để mang tới 3 máy bay tấn công, cho phép thực hiện các nhiệm vụ ở khoảng cách rất xa.

Nhật Bản từng lên kế hoạch sử dụng tàu ngầm mang máy bay để tấn công kênh đào Panama, một trong những tuyến hàng hải có ý nghĩa chiến lược quan trọng đối với Mỹ. Ý tưởng là đưa tàu ngầm đến gần khu vực mục tiêu mà không bị phát hiện, sau đó phóng máy bay để tấn công các công trình quan trọng của kênh đào. Nếu thành công, hoạt động này có thể gây gián đoạn nghiêm trọng tuyến vận tải chiến lược của Mỹ. Tuy nhiên, kế hoạch không bao giờ được triển khai. Dù vậy, những chiếc tàu ngầm và máy bay được phát triển cho nhiệm vụ này hoàn toàn có thật.

Nhật Bản cũng đã sử dụng tàu ngầm mang máy bay trong các hoạt động tác chiến thực tế. Một chiếc E14Y được phóng từ tàu ngầm I-7 từng thực hiện nhiệm vụ trinh sát Trân Châu Cảng, đánh giá mức độ thiệt hại sau cuộc tấn công của Nhật Bản vào tháng 12/1941.

Trường hợp nổi tiếng hơn xảy ra vào ngày 9/9/1942, khi tàu ngầm I-25 phóng một chiếc E14Y ngoài khơi bang Oregon của Mỹ. Máy bay thả hai quả bom cháy xuống khu vực gần thị trấn Brookings, ở phía nam Oregon, gần biên giới với California, với mục tiêu gây ra một vụ cháy rừng lớn.

Cuộc tấn công gây thiệt hại không đáng kể, nhưng có ý nghĩa đặc biệt bởi đây là lần đầu tiên trong Thế chiến II, máy bay của một quốc gia thù địch ném bom xuống phần lãnh thổ lục địa liền kề của Mỹ.

I-400 – Ý tưởng không thể trở thành vũ khí chiến lược

Trong suốt Thế chiến II, Nhật Bản tiếp tục nghiên cứu nhiều phương án sử dụng máy bay phóng từ tàu ngầm để tấn công các mục tiêu của đối phương. Tuy nhiên, chi phí rất lớn và những ưu tiên tác chiến khác đã hạn chế việc triển khai các kế hoạch này.

Chiếc đầu tiên thuộc lớp I-400 được đóng từ năm 1943 và đưa vào biên chế cuối năm 1944. Tuy nhiên, thời điểm đó cục diện chiến tranh đã chuyển biến nghiêm trọng theo hướng bất lợi cho Nhật Bản. Chỉ hai tàu khác cùng lớp là I-401 và I-402 được hoàn thiện trước khi chiến tranh kết thúc.

Đầu năm 1945, các cuộc không kích quy mô lớn nhằm vào lãnh thổ Nhật Bản khiến giới hoạch định quân sự nước này cân nhắc nhiều phương án trả đũa Mỹ. Sau chiến dịch không kích bằng bom cháy quy mô lớn nhằm vào Tokyo hồi tháng 3/1945, Hải quân Nhật Bản đề xuất sử dụng máy bay để tấn công San Francisco. Tuy nhiên, Bộ Tổng tham mưu Nhật Bản bác bỏ kế hoạch này.

Ba tháng sau, ba tàu ngầm I-400, I-401 và I-402 được chuẩn bị cho một cuộc tấn công nhằm vào kênh đào Panama. Nhưng sau khi Okinawa thất thủ, giới hoạch định chiến tranh Nhật Bản quyết định chuyển hướng nhiệm vụ sang tấn công các lực lượng Mỹ tại quần đảo Caroline. Các tàu ngầm đang trên đường thực hiện nhiệm vụ vào tháng 8/1945 thì Nhật Bản tuyên bố đầu hàng, khiến kế hoạch bị hủy bỏ.

Diễn biến của Thế chiến II khiến hạm đội I-400 không có cơ hội phát huy vai trò chiến lược như Nhật Bản từng kỳ vọng. Những tàu ngầm khổng lồ này xuất hiện quá muộn, khi Nhật Bản đã ở vào thế ngày càng bất lợi và không còn đủ thời gian để khai thác đầy đủ khả năng của chúng.

Sau chiến tranh, ý tưởng tàu ngầm mang máy bay chủ yếu được xem như một thử nghiệm đặc biệt trong lịch sử phát triển vũ khí hải quân. Các cường quốc hải quân không tiếp tục theo đuổi mô hình này trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh.

Về mặt kỹ thuật, việc kết hợp khả năng tàng hình của tàu ngầm với khả năng trinh sát và tấn công của máy bay trong công nghệ những năm 1940 quá phức tạp, trong khi hiệu quả thu được chưa tương xứng với nguồn lực bỏ ra. Tuy nhiên, ý tưởng cốt lõi phía sau mô hình này vẫn có sức hấp dẫn: một phương tiện có khả năng hoạt động bí mật dưới mặt nước nhưng vẫn có thể triển khai máy bay để mở rộng đáng kể phạm vi trinh sát và tấn công.

Bài liên quan
Đọc tiếp

(0) Bình luận
Nổi bật VOVLIVE
Khai mạc lớp cập nhật kiến thức đối với Ủy viên Trung ương
Sáng 17/8, Ban Tổ chức Trung ương phối hợp với Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh tổ chức lễ khai mạc Chương trình bồi dưỡng, cập nhật kiến thức đối với Ủy viên Ban chấp hành Trung ương khóa XIV (Lớp thứ Nhất). Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự và phát biểu chỉ đạo.
Mới nhất