
Ông Lê Thanh Tùng, Trưởng ban Truyền thông và Phổ biến kiến thức thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) nhấn mạnh như vậy khi trả lời phỏng vấn của phóng viên Báo Điện tử Tiếng nói Việt Nam về Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số sau 1,5 năm triển khai.

PV: Thưa ông, một trong những yêu cầu của Nghị quyết 57 là tạo ra những đột phá, thay vì những thay đổi mang tính cải tiến từng phần. Nhìn lại chặng đường vừa qua, theo ông, những kết quả đạt được đã phản ánh đúng tinh thần “đột phá” của Nghị quyết đến đâu?
Ông Lê Thanh Tùng: Tôi cho rằng, sau 1 năm 6 tháng triển khai, điều quan trọng nhất là Nghị quyết 57 đã tạo được sự chuyển biến rõ rệt về nhận thức, quyết tâm chính trị và phương thức tổ chức thực hiện trong toàn hệ thống. Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số không còn được nhìn nhận đơn thuần là lĩnh vực chuyên môn của một số ngành, mà từng bước trở thành nội dung gắn với phát triển kinh tế - xã hội, cải cách quản trị, nâng cao năng suất lao động và năng lực cạnh tranh quốc gia.
Tuy nhiên, cần nhìn nhận đây mới là kết quả tạo nền tảng. Đột phá thực sự không chỉ được đo bằng số lượng văn bản hay nhiệm vụ hoàn thành, mà phải được thể hiện bằng năng suất mới, doanh nghiệp công nghệ mạnh hơn, dịch vụ công tốt hơn, nghiên cứu đi vào sản xuất nhanh hơn và đời sống của người dân được cải thiện rõ rệt hơn. Tại Hội nghị sơ kết, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh, giai đoạn vừa qua chủ yếu tạo lập nền móng; giai đoạn tới cần chuyển mạnh từ “xây dựng cơ chế” sang tạo ra sản phẩm, từ hoàn thành nhiệm vụ sang tạo ra giá trị. Đây cũng là thước đo sát thực nhất đối với tinh thần “đột phá” của Nghị quyết.

PV: Sau 1 năm 6 tháng triển khai, nhiều cơ chế, chính sách mới đã được ban hành để tháo gỡ điểm nghẽn cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Những đột phá về thể chế có ý nghĩa như thế nào đối với việc nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong giai đoạn phát triển mới, thưa ông?
Ông Lê Thanh Tùng: Thể chế chính là “đường băng” để khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo có thể cất cánh. Nếu cơ chế còn nặng về thủ tục, quản lý theo đầu vào, sợ sai, sợ trách nhiệm, thì rất khó khuyến khích các nhà khoa học, doanh nghiệp và địa phương mạnh dạn đầu tư cho những ý tưởng mới, công nghệ mới và mô hình mới.
Điểm tích cực sau thời gian triển khai Nghị quyết 57 là tư duy quản lý khoa học và công nghệ đã có sự chuyển dịch: từ chú trọng quản lý hoạt động đơn lẻ sang kiến tạo hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Báo cáo tại Hội nghị sơ kết đã khái quát đây là bước chuyển từ “khuyến khích chung” sang thiết kế hành lang pháp lý để thực thi, qua đó khơi thông nguồn lực cho đổi mới sáng tạo. Những cơ chế như thử nghiệm có kiểm soát, khoán chi và chấp nhận rủi ro phù hợp, thúc đẩy sở hữu trí tuệ, thương mại hóa kết quả nghiên cứu, thu hút và trọng dụng nhân tài đang từng bước được hoàn thiện. Đây là những thay đổi rất quan trọng vì giúp giải phóng nguồn lực, giảm độ trễ chính sách và tăng khả năng đưa nghiên cứu vào thực tiễn.
Về lâu dài, thể chế tốt sẽ tạo lợi thế cạnh tranh theo ba hướng: giúp doanh nghiệp đổi mới nhanh hơn; giúp nhà khoa học có điều kiện nghiên cứu, cống hiến tốt hơn; giúp Nhà nước điều hành linh hoạt hơn trên cơ sở dữ liệu và bằng chứng. Muốn tạo sức cạnh tranh bền vững, thể chế không chỉ cần thông thoáng mà còn phải minh bạch, ổn định, có cơ chế bảo vệ người dám đổi mới vì lợi ích chung.
PV:Từ kết quả bước đầu của Nghị quyết 57, theo ông, đâu là những lĩnh vực đang chứng minh rõ nhất rằng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số đã trở thành động lực tạo ra giá trị mới, thúc đẩy tăng trưởng và nâng cao chất lượng quản trị quốc gia?
Ông Lê Thanh Tùng: Có thể thấy rõ nhất ở ba nhóm lĩnh vực. Thứ nhất là quản trị quốc gia và cung cấp dịch vụ công. Việc phát triển dữ liệu dân cư, định danh điện tử, các nền tảng dùng chung và dịch vụ công trực tuyến đang từng bước làm thay đổi cách Nhà nước phục vụ người dân và doanh nghiệp. Hội nghị sơ kết cho thấy hạ tầng số tiếp tục được củng cố: mạng 5G phủ tới hơn 91% dân số, cáp quang đã kết nối tới 100% xã, phường; VNeID có hơn 71 triệu tài khoản định danh được kích hoạt; Cổng Dịch vụ công quốc gia đã công khai hơn 5.100 thủ tục hành chính, tích hợp hơn 3.700 thủ tục, cắt giảm 697 thủ tục và 1.754 điều kiện kinh doanh.
Thứ hai là các lĩnh vực công nghệ chiến lược và kinh tế số. Việt Nam đã xác định 10 công nghệ chiến lược gắn với 30 sản phẩm công nghệ chiến lược và 20 bài toán lớn của quốc gia. Đây là bước đi quan trọng để tập trung nguồn lực vào những lĩnh vực có khả năng tạo năng lực tự chủ và giá trị gia tăng cao như trí tuệ nhân tạo, hạ tầng số, dữ liệu, tự động hóa, công nghệ sinh học và các công nghệ mới.
Thứ ba là việc đưa khoa học, công nghệ vào giải quyết trực tiếp các bài toán phát triển của địa phương. Các mô hình ứng dụng công nghệ trong nuôi trồng, giám sát sâu bệnh, truy xuất nguồn gốc, quản lý di sản, phát triển du lịch và chuỗi giá trị sản phẩm địa phương cho thấy khoa học, công nghệ đã bắt đầu tạo ra giá trị cụ thể, chứ không chỉ dừng ở báo cáo hay chủ trương.
Đây có thể gọi là những “con số biết nói” về thành công bước đầu rất đáng kể của việc thực hiện Nghị quyết 57.

PV:Thưa ông, trong bối cảnh cuộc cạnh tranh toàn cầu ngày càng dựa trên tri thức, dữ liệu và công nghệ, theo ông, những kết quả bước đầu của Nghị quyết 57 tạo ra lợi thế gì để Việt Nam bứt phá, hiện thực hóa mục tiêu trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao?
Ông Lê Thanh Tùng: Kết quả quan trọng nhất là Việt Nam đã xác lập rõ mô hình phát triển mới: lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chủ yếu cho tăng trưởng, từng bước giảm phụ thuộc vào mô hình phát triển dựa nhiều vào vốn, tài nguyên và lao động chi phí thấp. Đây là thay đổi có ý nghĩa nền tảng, bởi trong cạnh tranh toàn cầu hiện nay, quốc gia nào làm chủ được dữ liệu, công nghệ, nhân lực chất lượng cao và năng lực đổi mới sẽ có lợi thế dài hạn.
Việt Nam đang có thêm một số điều kiện thuận lợi để bứt phá: quyết tâm chính trị cao; hệ thống thể chế đang được hoàn thiện nhanh; hạ tầng số tiếp tục mở rộng; dữ liệu dân cư và các nền tảng số dùng chung đã có những bước tiến; công nghệ chiến lược đã được xác định; doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học và địa phương bắt đầu có sự kết nối chặt chẽ hơn.
Tuy nhiên, lợi thế mới chỉ trở thành sức mạnh khi được chuyển hóa thành năng suất, sản phẩm cạnh tranh và chất lượng quản trị tốt hơn. Vì vậy, nhiệm vụ thời gian tới là phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, tạo môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, đẩy nhanh thương mại hóa kết quả nghiên cứu, bảo đảm an ninh dữ liệu và nâng cao năng lực thực thi ở mọi cấp. Hội nghị sơ kết cũng đặt ra yêu cầu đặc biệt rõ: mọi hệ thống số, cơ sở dữ liệu và nền tảng số phải được thiết kế theo yêu cầu an toàn, an ninh ngay từ đầu; đồng thời phải coi đào tạo kỹ năng số, năng lực đổi mới sáng tạo và ứng dụng AI là nhiệm vụ lâu dài. Khi những điều đó được thực hiện đồng bộ, Nghị quyết 57 sẽ tạo nền tảng quan trọng để Việt Nam bứt phá theo hướng phát triển nhanh, bền vững và tự chủ hơn.
PV: Xin cảm ơn ông!








