Vợ chồng chị Hoà, 30 tuổi, sống tại Hà Nội, từng dự định sinh hai con để các con có anh chị em. Tuy nhiên, khi con đầu lòng bước vào tuổi đi học, kế hoạch của hai vợ chồng bắt đầu bị trì hoãn. Tiền thuê nhà, chi phí sinh hoạt, học phí và các khoản phát sinh ngày càng tăng, trong khi thu nhập chỉ đủ trang trải cuộc sống và tích lũy một khoản nhỏ mỗi tháng.
Điều khiến chị Hoà lo lắng không chỉ là chi phí mang thai, sinh nở mà còn là chặng đường nuôi dạy con kéo dài hàng chục năm. Sinh thêm con đồng nghĩa với việc gia đình phải tính toán lại nơi ở, trường học, công việc và khoản dự phòng khi con ốm đau. Chị cũng sợ phải đánh đổi cơ hội phát triển nghề nghiệp để dành thời gian chăm sóc con nhỏ.
“Chúng tôi vẫn muốn có thêm con, nhưng chỉ mong khi sinh con ra, mình có thể cho con cuộc sống đủ đầy, không phải chật vật từng khoản”, chị Hoà nói.
Ở tuổi 32, chị Mai cũng nhiều lần gác kế hoạch sinh con thứ hai vì áp lực cân bằng giữa công việc, chăm sóc con và chi tiêu gia đình. Nếu sinh thêm em bé, chị lo không thể đảm đương mọi việc khi ông bà hai bên đã lớn tuổi, còn thuê người chăm trẻ lại là khoản chi đáng kể. Nghỉ việc hoặc giảm thời gian làm việc cũng có thể ảnh hưởng đến thu nhập và cơ hội thăng tiến.
“Không phải chúng tôi không thích đông con, nhưng sinh thêm một trẻ đồng nghĩa với việc phải chuẩn bị cho con từ lúc chào đời đến khi trưởng thành”, chị Mai nói.

Không thể quy tất cả cho chuyện ngại yêu, ngại cưới
Theo bác sĩ Mai Xuân Phương, nguyên Vụ phó Truyền thông - Giáo dục, Tổng cục Dân số (nay là Cục Dân số, Bộ Y tế) tuổi kết hôn ngày càng tăng, mức sinh tiếp tục dưới ngưỡng thay thế, trong khi một bộ phận người độc thân không còn đặt mục tiêu lập gia đình hay sinh con. Đằng sau xu hướng này là những áp lực kinh tế, tâm lý và nỗi lo về tương lai.
Theo Điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ năm 2024, tuổi kết hôn lần đầu trung bình của người Việt là 27,3, tăng 2,1 năm so với năm 2019. Tại khu vực thành thị, con số này lên tới 28,5 tuổi, riêng vùng Đông Nam Bộ là 29 tuổi.
Tổng tỷ suất sinh của Việt Nam giảm từ 2,11 con/phụ nữ năm 2021 xuống 1,91 năm 2024. Năm 2025, chỉ số tăng nhẹ lên 1,93 nhưng vẫn thấp hơn mức sinh thay thế khoảng 2,1 con/phụ nữ. Khảo sát do Cục Dân số, Bộ Y tế công bố cũng cho thấy 31,4% người độc thân được hỏi không có ý định kết hôn, 27,1% không có kế hoạch sinh con.
Những con số này cho thấy không thể chỉ nhìn nhận kết hôn muộn, sinh ít con là hệ quả của việc người trẻ thay đổi quan niệm sống. Tại các thành phố lớn, giá nhà, tiền thuê nhà, học phí và chi phí chăm sóc trẻ nhỏ khiến việc xây dựng gia đình trở thành bài toán dài hạn.
Nhiều người muốn có công việc ổn định, thu nhập đủ sống, khoản tích lũy và chỗ ở tương đối lâu dài trước khi kết hôn, sinh con. Khi những điều kiện ấy chưa được đáp ứng, kế hoạch gia đình dễ bị trì hoãn hết năm này sang năm khác. Thời điểm sinh con vì thế cũng lùi xa, khiến mong muốn có hai con càng khó thực hiện.
Muốn sinh con nhưng lo không đủ sức nuôi dạy
Bên cạnh kinh tế, cơ hội nghề nghiệp và sự phân chia trách nhiệm trong gia đình cũng ảnh hưởng đến quyết định sinh con. Phụ nữ sau sinh có thể đối mặt với thời gian nghỉ việc, khó khăn khi quay lại công việc, nguy cơ giảm thu nhập hoặc bỏ lỡ cơ hội thăng tiến. Nếu phần lớn việc nhà và chăm sóc con vẫn dồn lên vai người mẹ, nỗi lo phải đánh đổi sự nghiệp càng lớn.
Không ít gia đình mong muốn có thêm con nhưng chưa tìm được phương án chia sẻ việc chăm sóc trẻ, nhất là khi ông bà không thể hỗ trợ thường xuyên, còn dịch vụ trông trẻ vượt quá khả năng chi trả.
Trong khi đó, quan niệm về hạnh phúc ngày càng đa dạng. Với nhiều người, kết hôn và sinh con không còn là những cột mốc bắt buộc mà cần được cân nhắc dựa trên mong muốn, điều kiện sống và chất lượng mối quan hệ. Họ không chỉ lo có đủ tiền nuôi con mà còn muốn biết liệu mình có thể dành thời gian đồng hành cùng con, duy trì công việc và bảo đảm cuộc sống gia đình ổn định hay không.
Vì vậy, việc trì hoãn sinh con không đồng nghĩa với không muốn làm cha mẹ. Đôi khi, đó là lựa chọn xuất phát từ nỗi lo không thể mang lại cho con điều kiện phát triển tốt nhất.
Khi mức sinh giảm, tuyên truyền về trách nhiệm sinh con hay vận động người trẻ kết hôn sớm là chưa đủ. Điều quan trọng là tháo gỡ những rào cản khiến họ chưa sẵn sàng xây dựng gia đình.
Người trẻ cần cơ hội tiếp cận nhà ở phù hợp, việc làm ổn định, dịch vụ chăm sóc trẻ có chất lượng với chi phí hợp lý. Chính sách nghỉ thai sản, hỗ trợ cha mẹ quay lại thị trường lao động, phát triển hệ thống nhà trẻ và bảo vệ phụ nữ khỏi sự phân biệt đối xử liên quan đến thai sản cũng có ý nghĩa thiết thực.
Cùng với đó, cần khuyến khích cả cha và mẹ chia sẻ trách nhiệm chăm sóc, nuôi dạy con, thay vì mặc nhiên coi đây là công việc chủ yếu của phụ nữ. Khi gánh nặng gia đình được san sẻ, người trẻ sẽ có thêm điều kiện cân bằng giữa sự nghiệp và cuộc sống riêng.
Muốn cải thiện mức sinh, chính sách dân số cần hướng tới môi trường mà người trẻ có thể phát triển bản thân và xây dựng gia đình nếu họ mong muốn. Thay vì gắn cho họ những nhãn gọi như ngại yêu, lười cưới hay sợ sinh con, cần nhìn thẳng vào những trở ngại thực tế. Bởi sau mong muốn có đủ hai con, điều nhiều gia đình cần không chỉ là lời động viên, mà còn là điều kiện sống và sự hỗ trợ đủ thiết thực để họ an tâm nuôi dạy con trưởng thành.








