Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ số 36/2024/QH15 được Quốc hội khóa XV thông qua tại Kỳ họp thứ 7 ngày 27 tháng 6 năm 2024, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2025.

Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ năm 2024 có 09 chương, 89 điều; nội dung cơ bản và những điểm mới, vấn đề đáng lưu ý, cụ thể như sau:

A. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT

bai-5-28.png

1. Chương I. Quy định chung, gồm 09 điều (từ Điều 1 đến Điều 9)

Chương này quy định về: Phạm vi điều chỉnh; giải thích từ ngữ; nguyên tắc bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường bộ; chính sách của Nhà nước về trật tự, an toàn giao thông đường bộ; tuyên truyền, phổ biến pháp luật về trật tự, an toàn giao thông đường bộ; giáo dục kiến thức pháp luật về trật tự, an toàn giao thông đường bộ; cơ sở dữ liệu về trật tự, an toàn giao thông đường bộ; hợp tác quốc tế về trật tự, an toàn giao thông đường bộ; các hành vi bị nghiêm cấm.

2. Chương II. Quy tắc giao thông đường bộ, gồm 24 điều (từ Điều 10 đến Điều 33)

Chương này quy định về: Quy tắc chung; chấp hành báo hiệu đường bộ; chấp hành quy định về tốc độ và khoảng cách giữa các xe; sử dụng làn đường; vượt xe và nhường đường cho xe xin vượt; chuyển hướng xe; lùi xe; tránh xe đi ngược chiều; dừng xe, đỗ xe; mở cửa xe; sử dụng đèn; sử dụng tín hiệu còi; nhường đường tại nơi đường giao nhau; qua phà, qua cầu phao; giao thông tại đường ngang, cầu chung đường sắt; giao thông trên đường cao tốc; giao thông trong hầm đường bộ; xe ưu tiên; trường hợp chở người trên xe ô tô chở hàng; xe kéo xe, xe kéo rơ moóc và xe ô tô đầu kéo kéo sơ mi rơ moóc; người đi bộ; trẻ em, phụ nữ mang thai, người già yếu, người khuyết tật, người mất năng lực hành vi dân sự tham gia giao thông đường bộ; người điều khiển, người được chở, hàng hóa xếp trên xe thô sơ; người điều khiển, dẫn dắt vật nuôi, điều khiển xe vật nuôi kéo đi trên đường bộ; người lái xe, người được chở, hàng hóa xếp trên xe mô tô, xe gắn máy.

3. Chương III. Phương tiện tham gia giao thông đường bộ, gồm 22 điều (từ Điều 34 đến Điều 55)

Chương này quy định về: Phân loại phương tiện giao thông đường bộ; điều kiện phương tiện tham gia giao thông đường bộ; biển số xe; đấu giá biển số xe; quyền và nghĩa vụ của người trúng đấu giá biển số xe; cấp, thu hồi chứng nhận đăng ký xe và biển số xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ; niên hạn sử dụng của xe cơ giới; bảo đảm chất lượng an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng, phụ tùng xe cơ giới trong nhập khẩu, sản xuất, lắp ráp; bảo đảm an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ; trách nhiệm của cơ sở đăng kiểm, chủ xe cơ giới, xe máy chuyên dùng và người điều khiển xe cơ giới, xe máy chuyên dùng; bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường bộ đối với phương tiện vận tải đường bộ trong đô thị; bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường bộ đối với xe ô tô vận chuyển hành khách; bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường bộ đối với xe ô tô chở trẻ em mầm non, học sinh; bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường bộ trong vận chuyển hành khách, hàng hóa bằng xe mô tô, xe gắn máy, xe thô sơ; bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường bộ đối với xe bốn bánh có gắn động cơ vận chuyển hành khách, hàng hóa; bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường bộ đối với xe ô tô vận chuyển hàng hóa; bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường bộ đối với phương tiện giao thông đường bộ vận chuyển động vật sống, thực phẩm tươi sống; bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường bộ đối với phương tiện giao thông đường bộ vận chuyển hàng hoá nguy hiểm; bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường bộ đối với xe quá khổ giới hạn, xe quá tải trọng, xe bánh xích lưu hành trên đường bộ; bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường bộ đối với xe vận chuyển hàng siêu trường, siêu trọng; bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường bộ đối với xe cứu hộ giao thông đường bộ; bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường bộ đối với trường hợp xe ô tô của người nước ngoài đăng ký tại nước ngoài có tay lái ở bên phải tham gia giao thông tại Việt Nam; xe cơ giới nước ngoài do người nước ngoài đưa vào Việt Nam du lịch.

4. Chương IV. Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ, gồm 09 điều (từ Điều 56 đến Điều 64)

Chương này quy định về: Điều kiện của người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ; giấy phép lái xe; điểm của giấy phép lái xe; tuổi, sức khỏe của người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ; đào tạo lái xe; sát hạch lái xe; cấp, đổi, cấp lại và thu hồi giấy phép lái xe; đào tạo, kiểm tra cấp chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật giao thông đường bộ cho người điều khiển xe máy chuyên dùng; thời gian làm việc của người lái xe ô tô kinh doanh vận tải và vận tải nội bộ.

5. Chương V. Tuần tra, kiểm soát về trật tự, an toàn giao thông đường bộ, gồm 09 điều (từ Điều 65 đến Điều 73)

Chương này quy định về: Hoạt động tuần tra, kiểm soát về trật tự, an toàn giao thông đường bộ; căn cứ dừng phương tiện tham gia giao thông đường bộ để kiểm tra, kiểm soát; biện pháp phát hiện vi phạm pháp luật về trật tự, an toàn giao thông đường bộ; huy động người, phương tiện, thiết bị dân sự trong trường hợp cấp bách; di chuyển phương tiện vi phạm dừng, đỗ trên đường bộ gây cản trở, ùn tắc giao thông hoặc nguy cơ dẫn đến tai nạn giao thông đường bộ; trang bị, sử dụng phương tiện, thiết bị, vũ khí, công cụ hỗ trợ khi tuần tra, kiểm soát; hệ thống giám sát bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn giao thông đường bộ; hệ thống quản lý dữ liệu thiết bị giám sát hành trình và thiết bị ghi nhận hình ảnh người lái xe; hệ thống thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ kiểm tra tải trọng xe cơ giới; quyền và trách nhiệm của người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ; ngăn chặn hành vi không chấp hành yêu cầu kiểm tra, kiểm soát, cản trở, chống người thi hành công vụ.

6. Chương VI. Chỉ huy, điều khiển giao thông đường bộ bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường bộ, gồm 06 điều (từ Điều 74 đến Điều 79)

Chương này quy định về: Chỉ huy, điều khiển giao thông đường bộ; trung tâm chỉ huy giao thông; giải quyết tình huống đột xuất gây mất trật tự, an toàn giao thông trên đường bộ; bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường bộ đối với trường hợp sử dụng tạm thời lòng đường, vỉa hè vào mục đích khác; giải quyết, khắc phục ùn tắc giao thông; kiến nghị về trật tự, an toàn giao thông đường bộ đối với công trình đường bộ.

7. Chương VII. Giải quyết tai nạn giao thông đường bộ, gồm 06 điều (từ Điều 80 đến Điều 85)

Chương này quy định về: Trách nhiệm của người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ gây ra tai nạn giao thông đường bộ, người liên quan và người có mặt tại hiện trường vụ tai nạn giao thông đường bộ; Phát hiện, tiếp nhận, xử lý tin báo tai nạn giao thông đường bộ; Cứu nạn, cứu hộ khi xảy ra vụ tai nạn giao thông đường bộ; Điều tra, giải quyết tai nạn giao thông đường bộ; Thống kê tai nạn giao thông đường bộ; Quỹ giảm thiểu thiệt hại tai nạn giao thông đường bộ.

8. Chương VIII. Quản lý nhà nước về trật tự, an toàn giao thông đường bộ, gồm 02 Điều (từ điều Điều 86 đến Điều 87)

Chương này quy định về: Nội dung quản lý nhà nước về trật tự, an toàn giao thông đường bộ; trách nhiệm quản lý nhà nước về trật tự, an toàn giao thông đường bộ.

9. Chương IX. Điều khoản thi hành, gồm 02 điều (từ Điều 88 đến Điều 89)

Chương này quy định về: Hiệu lực thi hành; quy định chuyển tiếp.

B. MỘT SỐ ĐIỂM MỚI CỦA LUẬT

1. Về hành vi cấm “điều khiển phương tiện giao thông mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn”

Trong quá trình xây dựng Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ và nghiên cứu đưa hành vi cấm “điều khiển phương tiện giao thông mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn” vào Luật, Cục Cảnh sát giao thông (Bộ Công an), Cục Quản lý Khám, chữa bệnh (Bộ Y tế) và các đơn vị liên quan đã tổ chức Hội thảo khoa học: “Tác hại của rượu, bia đối với người tham gia giao thông đường bộ”. Hội thảo được đánh giá ở nhiều góc độ khác nhau của các chuyên gia đầu ngành trong các lĩnh vực Công an, Y tế, các nhà khoa học trong các cơ quan, đoàn thể với 05 nhóm chủ đề: TNGT đường bộ liên quan đến người điều khiển phương tiện có sử dụng rượu, bia; Kiểm soát nồng độ cồn đối với người tham gia giao thông đường bộ; Tác hại của rượu, bia đối với sức khoẻ con người; gánh nặng của ngành y đối với việc cấp cứu, chữa trị cho những người sử dụng rượu, bia gây ra; hậu quả cho xã hội do hành vi của người sử dụng rượu, bia gây ra. Qua đó đã đánh giá tác hại của rượu, bia đối với hành vi vi phạm pháp luật: Việc sử dụng rượu, bia là một trong những nguyên nhân phát sinh các hành vi phạm tội bộc phát. Khi một người uống nhiều rượu, bia sẽ có khả năng bị mất tự chủ, không kiểm soát được lời nói và hành động, dẫn đến các tình huống cãi vã, xô xát, đánh nhau… Từ đó dễ phát sinh các hành vi phạm tội như gây rối trật tự công công, cố ý gây thương tích, thậm chí là giết người, hiếp dâm, chống người thi hành công vụ… gây ra nhiều hệ lụy đối với xã hội.

bai-5-26.png

Tác hại của rượu, bia đối với người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ có thể gây tổn thương não, ức chế hệ thần kinh làm cho con người dễ bị kích động mạnh, mất chuẩn mực, phản ứng chậm chạm, giảm nhạy bén khi điều khiển phương tiện tham gia giao thông. Thực tế, việc sử dụng rượu, bia có thể khiến người dùng bị mất tập trung khi lái xe, một số trường hợp say xỉn còn thực hiện hành vi “phóng nhanh, vượt ẩu”, từ đó phát sinh các tình huống nguy hiểm có thể gây ra tai nạn giao thông nghiêm trọng, tai nạn giao thông liên hoàn, làm ảnh hưởng đến sự an toàn về sức khỏe, tính mạng của người điều khiển phương tiện và cả những người xung quanh. Năm 2023 và 10 tháng đầu năm 2024 lực lượng Cảnh sát giao thông đã kiểm tra, xử lý 7.587.410 trường hợp vi phạm TTATGT đường bộ; trong đó có 1.566.812 trường hợp vi phạm nồng độ cồn (chiếm 20,65% tổng số vi phạm), tính trung bình mỗi ngày trên toàn quốc có hơn 2.300 người điều khiển phương tiện tham gia giao thông trong cơ thể có nồng độ cồn bị lực lượng chức năng kiểm tra, phát hiện và xử lý.

Vì vậy, trên cơ sở đánh giá của các nhà khoa học, tham khảo kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn công tác bảo đảm trật tự an toàn giao thông tại Việt Nam cho thấy quy định cấm người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn đã được quy định tại Luật phòng chống tác hại của rượu, bia (Điều 21; khoản 1 Điều 35) và Luật TTATGT đường bộ (khoản 2 Điều 9) sẽ dần hình thành thói quen, văn hoá “đã uống rượu, bia không lái xe”, đảm bảo xây dựng nền giao thông đường bộ văn minh, an toàn.

2. Quy định về giáo dục kiến thức pháp luật về TTATGT đường bộ trong các cơ sở giáo dục

Tình trạng vi phạm TTATGT và tai nạn giao thông liên quan đến các em học sinh ngày càng diễn biến phức tạp và có chiều hướng gia tăng. Nhiều em học sinh điều khiển xe gắn máy, xe mô tô đến trường nhưng chưa đủ điều kiện, chưa hiểu hết các quy định của pháp luật về TTATGT, ý thức tham gia giao thông chưa cao, kỹ năng điều khiển phương tiện không có, vì vậy tiềm ẩn nguy cơ rất lớn gây tai nạn giao thông.

Nghị quyết 12/NQ-CP ngày 19/2/2019 của Chính phủ về tăng cường bảo đảm TTATGT và chống ùn tắc giao thông đã xác định tầm quan trọng của công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về TTATGT và Chính phủ đã giao Bộ giáo dục và đào tạo đưa nội dung giáo dục pháp luật về bảo đảm TTATGT và văn hóa giao thông vào trong chương trình chính khóa dưới hình thức tích hợp vào nội dung một số môn học và hoạt động giáo dục từ giáo dục mầm non đến giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp.

Đến nay nội dung này đã được “luật hoá”, Luật TTATGT đường bộ đã có 01 điều (Điều 6) quy định giáo dục kiến thức pháp luật về TTATGT đường bộ. Trong đó giao trách nhiệm cho Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội trong phạm vi, nhiệm vụ và quyền hạn của mình, chủ trì phối hợp với Bộ Công an và các bộ, ngành có liên quan xây dựng, tích hợp, lồng ghép kiến thức pháp luật về TTATGT vào chương trình giảng dạy trong các cơ sở giáo dục và giao Bộ Công an chủ trì chỉ đạo lực lượng CSGT phối hợp với các cơ sở giáo dục tổ chức hướng dẫn lái xe gắn máy an toàn cho học sinh, nhằm nâng cao kiến thức và kĩ năng tham gia giao thông an toàn cho các em học sinh, hình thành nên ý thức chấp hành pháp luật về TTATGT ngay từ khi còn nhỏ, còn ngồi trên ghế nhà trường.

3. Quy định cơ sở dữ liệu về trật tự, an toàn giao thông đường bộ

Đây là cơ sở dữ liệu dùng chung, được kết nối, chia sẻ với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, cơ sở dữ liệu về đường bộ và các cơ sở dữ liệu khác có liên quan. Ứng dụng công nghệ số và sử dụng dữ liệu số một cách sâu rộng trong toàn bộ các hoạt động quản lý. Điều này sẽ xóa bỏ sự chênh lệch thống kê của mỗi cơ quan, đơn vị, bảo đảm đồng bộ trong số liệu để dự báo tình hình TTATGT đường bộ, xây dựng chiến lược phát triển giao thông đường bộ, số hóa dữ liệu thay đổi phương thức hoạt động từ thủ công sang môi trường điện tử, từ quản trị hoạt động của lực lượng chức năng được công khai minh bạch, cho đến cung cấp các dịch vụ công phục vụ người dân và doanh nghiệp, phục vụ công tác quản lý nhà nước hiệu lực, hiệu quả…

Cơ sở dữ liệu về TTATGT đường bộ (Điều 7) bao gồm: Cơ sở dữ liệu về đăng ký, quản lý xe cơ giới, xe máy chuyên dùng; cơ sở dữ liệu về đăng kiểm xe cơ giới, xe máy chuyên dùng; cơ sở dữ liệu về đào tạo sát hạch, cấp giấy phép lái xe, chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ; cơ sở dữ liệu về người điều khiển xe cơ giới, xe máy chuyên dùng; cơ sở dữ liệu về bảo hiểm của chủ xe cơ giới, xe máy chuyên dùng; cơ sở dữ liệu về xử lý vi phạm hành chính về trật tự, an toàn giao thông đường bộ; cơ sở dữ liệu về tai nạn giao thông đường bộ; cơ sở dữ liệu về hành trình của phương tiện giao thông đường bộ, hình ảnh người lái xe theo quy định của Luật; cơ sở dữ liệu về quản lý thời gian của người lái xe theo quy định của Luật; cơ sở dữ liệu khác liên quan đến công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường bộ. Từ việc tổ chức quản lý dữ liệu về trật tự, an toàn giao thông đường bộ được đồng bộ, theo cấu trúc khoa học, giúp quản lý và xử lý dữ liệu hiệu quả hơn; cung cấp thông tin kịp thời, đầy đủ, chính xác nhằm hỗ trợ đắc lực cho quá trình ra các quyết định quản lý về TTATGT trên phạm vi toàn quốc một cách nhanh chóng, kịp thời. Chuyển đổi số trong công tác bảo đảm TTATGT cũng giúp cho người dân giảm thời gian, chi phí khi đi lại làm các thủ tục, không phải chờ đợi, góp phần nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý Nhà nước về TTATGT đường bộ.

4. Về bảo vệ trẻ em và người yếu thế tham gia giao thông đường bộ

Một trong những điểm nhấn của Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ là có nhiều quy định liên quan đến việc bảo vệ trẻ em, phụ nữ mang thai, người khuyết tật, người bệnh và người già yếu, người mất năng lực hành vi dân sự tham gia giao thông đường bộ.

Trong Luật TTATGT đường bộ, cơ quan chức năng đã đề xuất những quy định bảo đảm an toàn cho trẻ em, ưu tiên trợ giúp khi xảy ra TNGT đối với nhóm yếu thế tương thích với Công ước Viên mà Việt Nam là thành viên và dựa vào những nghiên cứu của các tổ chức xã hội, các cơ quan Y tế trong và ngoài nước đối với sự an toàn cho trẻ em trên xe ô tô và khi tham gia giao thông, gồm:

- Khoản 4 Điều 4 quy định bảo đảm công bằng, bình đẳng, an toàn đối với người tham gia giao thông đường bộ; tạo thuận lợi cho trẻ em, phụ nữ mang thai, người già yếu, người khuyết tật trong tham gia giao thông đường bộ; xây dựng văn hóa giao thông; giáo dục, phổ biến, bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ cho trẻ em, học sinh để hình thành, nâng cao ý thức tự bảo vệ bản thân và tự giác chấp hành pháp luật khi tham gia giao thông đường bộ.

- Khoản 2 Điều 10 quy định ngồi trên xe ô tô phải thắt dây đai an toàn tại những chỗ có trang bị dây đai an toàn khi tham gia giao thông đường bộ.

- Khoản 3 Điều 10 quy định về thiết bị an toàn dành cho trẻ em. Khi chở trẻ em dưới 10 tuổi và chiều cao dưới 1,35m trên xe ô tô không được cho trẻ em ngồi cùng hàng ghế với người lái xe, trừ loại xe ô tô chỉ có một hàng ghế; người lái xe phải sử dụng, hướng dẫn sử dụng thiết bị an toàn phù hợp cho trẻ em.

Để đưa quy định này vào thực tiễn, trong thời gian tới còn có nhiều yếu tố cần chuẩn bị về phương án và các quy định đi kèm để việc thực thi luật tốt hơn. Đồng thời cần thời gian để đưa ra các quy chuẩn chất lượng cho thiết bị an toàn dành cho trẻ em; xây dựng hệ thống kênh phân phối sản phẩm tới người tiêu dùng. Mặt khác, người dân cũng cần có thời gian chuẩn bị để tiếp nhận và đáp ứng những quy định mới của Luật, nhận thức về tầm quan trọng của việc sử dụng thiết bị an toàn dành cho trẻ em đạt chuẩn và cách sử dụng đúng trên ô tô... Người dân phải thực hiện tốt quy định này để bảo vệ trẻ em trên mỗi hành trình. Vì vậy, riêng khoản 3 Điều 10 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.

- Điểm a khoản 3 Điều 23 bổ sung thêm trẻ em, phụ nữ mang thai được ở lại trên xe khi xe xuống phà, đang ở trên phà và khi lên bến.

- Khoản 2 Điều 30 quy định trẻ em, phụ nữ mang thai, người già yếu, người khuyết tật, người mất năng lực hành vi dân sự tham gia giao thông đường bộ được ưu tiên, như: Trẻ em dưới 7 tuổi khi đi qua đường phải có người lớn dẫn dắt. Người khiếm thị, người mất năng lực hành vi dân sự khi đi trên đường bộ phải có người dẫn dắt. Người khuyết tật sử dụng xe lăn có động cơ hoặc không có động cơ phải đi trên vỉa hè, lề đường và nơi có vạch kẻ đường dành cho người đi bộ, xe thô sơ. Mọi người có trách nhiệm giúp đỡ trẻ em dưới 7 tuổi, phụ nữ mang thai, người già yếu, người khuyết tật, người mất năng lực hành vi dân sự khi qua đường.

- Điều 33 quy định hạ độ tuổi từ 14 xuống 12 tuổi đối với trường hợp người lái xe mô tô hai bánh, xe gắn máy được chở tối đa 02 người và thêm đối tượng được chở là người già yếu hoặc người khuyết tật.

bai-5-23.png

- Điều 46 quy định về điều kiện bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường bộ đối với xe ô tô chở trẻ em mầm non, học sinh. Theo đó, xe ô tô kinh doanh vận tải chở trẻ em mầm non, học sinh phải có thiết bị ghi nhận hình ảnh trẻ em mầm non, học sinh và thiết bị có chức năng cảnh báo, chống bỏ quên trẻ em trên xe; có niên hạn sử dụng không quá 20 năm; có màu sơn theo quy định của Chính phủ. Xe ô tô chở trẻ em mầm non hoặc học sinh tiểu học phải có dây đai an toàn phù hợp với lứa tuổi hoặc sử dụng xe có ghế ngồi phù hợp với lứa tuổi theo quy định của pháp luật. Khi đưa đón trẻ em mầm non, học sinh tiểu học phải bố trí tối thiểu 01 người quản lý trên mỗi xe ô tô để hướng dẫn, giám sát, duy trì trật tự và bảo đảm an toàn cho trẻ em mầm non, học sinh tiểu học trong suốt chuyến đi. Trường hợp xe từ 29 chỗ trở lên (không kể chỗ của người lái xe) mà chở từ 27 trẻ em mầm non và học sinh tiểu học trở lên phải bố trí tối thiểu 02 người quản lý trên mỗi xe ô tô. Người quản lý, người lái xe có trách nhiệm kiểm tra trẻ em mầm non, học sinh tiểu học khi xuống xe; không được để trẻ em mầm non, học sinh tiểu học trên xe khi người quản lý và người lái xe đã rời xe. Lái xe ô tô đưa đón trẻ em mầm non, học sinh phải có tối thiểu 02 năm kinh nghiệm lái xe vận tải hành khách. Xe đưa đón trẻ em mầm non, học sinh được ưu tiên trong tổ chức phân luồng, điều tiết giao thông, bố trí nơi dừng xe, đỗ xe tại khu vực trường học và tại các điểm trên lộ trình đưa đón trẻ em mầm non, học sinh.

5. Về đấu giá biển số xe ô tô, xe mô tô, xe gắn máy

Thực hiện Nghị quyết 73/2022/QH15 của Quốc hội khóa XV về thí điểm đấu giá biển số xe ô tô, đến tháng 10/2024, Bộ Công an đã tổ chức 239 ngày đấu giá với 1.645.852 biển được đưa ra đấu giá, kết quả đấu giá thành công 41.882 biển, tổng giá trị tài sản đấu thành là hơn 3.946 tỷ đồng (trong đó, tổng số tiền người trúng đấu giá đã nộp là 3.520 tỷ).

Như vậy, quá trình thực hiện Nghị quyết 73 của Quốc hội khóa XV đã tạo tiền đề quan trọng, chứng minh sự thành công việc đưa quy định của pháp luật vào cuộc sống. Do đó, Luật Trật tự an toàn giao thông đường bộ đã quy định về đấu giá biển số xe ô tô, xe mô tô, xe gắn máy để đáp ứng nhu cầu của người dân, tạo sự công bằng giữa các chủ thể có nhu cầu, đồng thời khai thác tài sản công có hiệu quả, tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước, bảo đảm phù hợp với phạm vi điều chỉnh của Luật TTATGT đường bộ là luật chuyên ngành. Luật đã quy định đầy đủ, cụ thể nội dung về đấu giá biển số xe (Điều 37), quyền và nghĩa vụ của người trúng đấu giá biển số xe (Điều 38) và tạo sự thống nhất với các quy định về cấp và quản lý biển số xe theo mã định danh của chủ xe, đáp ứng mục tiêu công dân số, Chính phủ số theo Đề án 06 của Chính phủ.

bai-5-25.png

6. Bổ sung quy định việc kiểm định khí thải đối với xe mô tô, xe gắn máy

Việc kiểm định đối với xe mô tô, xe gắn máy chỉ thực hiện kiểm định khí thải. Việc kiểm định khí thải thực hiện theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường được thực hiện tại các cơ sở kiểm định khí thải đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (Khoản 2 Điều 42).

bai-5-27.png

7. Về quy định điểm, trừ điểm của giấy phép lái xe

Hiện tại việc quản lý người lái xe sau khi được sát hạch, cấp giấy phép lái xe (GPLX) còn nhiều bất cập, cơ quan chức năng chưa có các biện pháp quản lý phù hợp, hữu hiệu, nhất là quản lý việc chấp hành pháp luật về TTATGT của người lái xe. Vì vậy nhằm quản lý việc chấp hành pháp luật của người điều khiển phương tiện giao thông Luật Trật tự an toàn giao thông đường bộ đã quy định về điểm, trừ điểm của GPLX (Điều 58). GPLX chưa bị trừ hết điểm, người lái xe tiếp tục được điều khiển phương tiện tham gia giao thông, không ảnh hưởng đến hoạt động tham gia giao thông, hoạt động sản xuất kinh doanh, đời sống của nhân dân, qua đó bảo đảm tính nhân văn, nhân đạo của pháp luật Việt Nam; đáp ứng yêu cầu thực tiễn, ứng dụng chuyển đổi số trong công tác bảo đảm TTATGT trong tình hình hiện nay, tiếp thu kinh nghiệm quản lý an toàn giao thông của các nước tiên tiến, qua đó quản lý người lái xe trong suốt quá trình đào tạo, sát hạch, cấp GPLX cho đến quá trình chấp hành pháp luật của người lái xe, việc vi phạm, tái phạm, từ đó sẽ tác động tới hành vi, nâng cao ý thức của người tham gia giao thông, giúp cơ quan quản lý giám sát toàn diện quá trình chấp hành sau vi phạm của người lái xe. GPLX bị trừ hết điểm thì người có GPLX không được điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ theo giấy phép lái xe đó. GPLX chưa bị trừ hết điểm thì người tham gia giao thông vẫn được điều khiển phương tiện.

bai-5-24.png

Thủ tục trừ điểm, phục hồi điểm sẽ bảo đảm đơn giản, hợp lý tránh phiền hà cho người vi phạm, theo hướng ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, số hoá hệ thống CSDL về sát hạch, cấp GPLX; hệ thống CSDL về xử phạt vi phạm hành chính; khi có quyết định xử phạt (đối với hành vi vi phạm có quyết định trừ điểm) người lái xe sẽ nhận được thông báo của cơ quan xử phạt về việc GPLX bị trừ điểm; hệ thống CSDL sẽ tự động trừ điểm; sau 12 tháng tính từ lần trừ điểm gần nhất, nếu GPLX còn điểm hệ thống sẽ tự động phục hồi điểm cho người lái xe.

8. Về phân hạng giấy phép lái xe

Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ phân hạng GPLX thành 15 hạng (Điều 57) khác với quy định tại Luật Giao thông đường bộ 2008, điều này nhằm nội luật hoá các quy định về phân hạng GPLX quy định tại Công ước Viên năm 1968, bảo đảm cam kết của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khi kí kết, gia nhập công ước; tạo thuận lợi cho người dân Việt Nam sinh sống, học tập tại các nước là thành viên của Công ước Viên không mất chi phí đổi, học để được cấp GPLX. Đồng thời cũng tạo thuận lợi cho các nhà đầu tư, khách nước ngoài vào Việt Nam đầu tư, tham quan, du lịch góp phần phát triển kinh tế, du lịch, thương mại, hợp tác quốc tế, phát triển đầu tư, sản xuất, lắp ráp, nhập khẩu phương tiện trong nước và quốc tế do có sự đồng bộ về phân hạng phương tiện và GPLX.

9. Người điều khiển phương tiện có thể xuất trình giấy tờ qua tài khoản định danh điện tử

Khi thông tin của các giấy tờ (gồm: Chứng nhận đăng ký xe; chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của phương tiện; chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới; giấy phép lái xe) đã được tích hợp, cập nhật trong căn cước điện tử, tài khoản định danh điện tử trên Ứng dụng định danh quốc gia -VNeID, thì lực lượng chức năng thực hiện việc kiểm tra, kiểm soát thông qua thông tin trong căn cước điện tử, tài khoản định danh điện tử trên Ứng dụng định danh quốc gia -VNeID, có giá trị như kiểm tra trực tiếp giấy tờ đó (Khoản 3 Điều 56).

Trong quá trình xử lý vi phạm mà người vi phạm xuất trình giấy tờ qua Ứng dụng định danh quốc gia -VNeID thì lực lượng chức năng sẽ tạm giữ, tước giấy tờ trên môi trường điện tử.

10. Về Quỹ giảm thiểu thiệt hại TNGT đường bộ

Đây là quỹ ngoài ngân sách nhà nước, hình thành trên cơ sở huy động các nguồn lực đóng góp của toàn xã hội; quỹ giảm thiểu thiệt hại TNGT đường bộ được quy định trong Luật TTATGT đường bộ (Điều 85) sẽ tạo cơ sở pháp lý đủ mạnh, rõ ràng để triển khai việc hỗ trợ, khắc phục hậu quả vụ TNGT, giảm thiểu thiệt hại do TNGT đường bộ gây ra; quỹ sẽ dùng để hỗ trợ về tinh thần, vật chất cho những người không may bị nạn trong vụ TNGT, thân nhân, gia đình của người bị nạn để họ nhanh chóng ổn định, trở lại cuộc sống thường ngày, ngoài ra nguồn quỹ này cũng khích lệ các lực lượng tham gia công tác bảo đảm TTATGT đường bộ ngày một tốt hơn và huy động tối đã mọi nguồn lực xã hội chung tay tham gia công tác bảo đảm TTATGT đường bộ, từ đó sẽ giảm TNGT đường bộ và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.

Việc tuyên truyền, giáo dục, phổ biến kiến thức pháp luật về TTATGT; triển khai thực hiện nghiêm các quy định của pháp luật, các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Chính phủ, hướng dẫn, chỉ đạo của Bộ Quốc phòng, Uỷ ban An toàn giao thông quốc gia về công tác bảo đảm TTATGT đến toàn thể quân nhân, công chức, công nhân viên chức quốc phòng và người lao động trong các cơ quan, đơn vị là trách nhiệm của cấp ủy đảng, người chỉ huy các cấp, nhằm nâng cao nhận thức, ý thức tự giác chấp hành pháp luật về TTATGT, hình thành “văn hóa giao thông” an toàn, giảm thiểu TNGT, vi phạm TTATGT trong toàn quân; với mục tiêu cao nhất là đảm bảo tính mạng, sức khỏe, tài sản của mọi người khi tham gia giao thông. Quán triệt và thực hiện có hiệu quả Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ, Luật Đường bộ và các văn bản quy phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng, nhằm tăng cường hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý, rèn luyện kỷ luật, xây dựng nền nếp chính quy, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao, xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện “Mẫu mực, tiêu biểu”, xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại./.

Bài liên quan
Đọc tiếp

(0) Bình luận
Nghe
1x
1.5x
2x
  • vov1
  • VOV GIAO THONG HCM
  • vov2
  • vov3
  • vov5
  • vov6
Nổi bật VOVLIVE
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước: Chủ động bảo vệ an ninh quốc gia trong kỷ nguyên mới
VOVLIVE - Ngày 11/7, tới dự và phát biểu chỉ đạo tại lễ kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống lực lượng An ninh nhân dân (12/7/1946 - 12/7/2026), Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nêu rõ, bảo vệ an ninh trong kỷ nguyên mới phải kết hợp chặt chẽ giữa truyền thống với hiện đại.
Mới nhất