
Bước chuyển trong tư duy hội nhập quốc tế của Đảng
Tham luận tại hội thảo “Việt Nam trên hành trình 40 năm đổi mới và hội nhập quốc tế (1986 - 2026)”, TS Tạ Thị Nguyệt Trang, Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội cho rằng, 40 năm qua, nhận thức của Đảng về hội nhập quốc tế đã có những chuyển biến căn bản trên nhiều phương diện:
Thứ nhất, về chức năng, hội nhập quốc tế chuyển từ mở cửa, tranh thủ nguồn lực bên ngoài sang trở thành động lực và phương thức phát triển đất nước. Quá trình này thể hiện qua ba bước phát triển chủ yếu: ban đầu là tiếp cận các nguồn lực bên ngoài; tiếp đó, hội nhập trở thành động lực thúc đẩy cải cách thể chế và nâng cao năng lực cạnh tranh; và cao hơn là mở rộng khả năng tham gia vào các mạng lưới sản xuất, tri thức và đổi mới sáng tạo toàn cầu. Theo đó, trọng tâm không còn dừng lại ở việc thu hút thêm nguồn lực, mà chuyển sang nâng cao năng lực hấp thụ, khai thác và chuyển hóa các nguồn lực đó thành động lực phát triển thực chất.
Thứ hai, về phạm vi, hội nhập quốc tế từng bước mở rộng từ lĩnh vực kinh tế sang nhiều lĩnh vực, hướng tới tính toàn diện và đồng bộ.
Sự chuyển đổi từ khái niệm “hội nhập kinh tế quốc tế” sang “hội nhập quốc tế” cho thấy phạm vi hội nhập ngày càng được mở rộng, bao trùm nhiều lĩnh vực của đời sống đất nước. Trong giai đoạn mới, yêu cầu đặt ra không chỉ là mở rộng các lĩnh vực hợp tác, mà còn phải bảo đảm tính đồng bộ trong tổ chức thực hiện. Điều này không có nghĩa tất cả các lĩnh vực đều phải được triển khai với cường độ như nhau, mà đòi hỏi xác định rõ trọng tâm và cơ chế phối hợp phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả hội nhập.

Thứ ba, về vị thế, Việt Nam chuyển từ tham gia đến chủ động đóng góp và tham gia định hình thể chế quốc tế. Sự thay đổi này được phản ánh qua quá trình phát triển trong tư duy đối ngoại của Đảng, từ chủ trương “muốn là bạn” (năm 1991) đến xác định Việt Nam là “đối tác tin cậy” (năm 2001), rồi trở thành “thành viên có trách nhiệm” trong cộng đồng quốc tế (năm 2011). Đến giai đoạn hiện nay, yêu cầu “chủ động tham gia xây dựng, định hình các thể chế đa phương ngày càng được nhấn mạnh, thể hiện bước phát triển mới trong tư duy và vị thế đối ngoại của Việt Nam.
Thứ tư, về mối quan hệ với độc lập, tự chủ, hội nhập quốc tế ngày càng được nhìn nhận như một phương thức củng cố tự chủ chiến lược. Trong nhiều năm, độc lập, tự chủ và hội nhập thường được đặt trong một mối quan hệ cần xử lý hài hòa: hội nhập sâu để phát triển nhưng không để lệ thuộc. Từ định hướng trong Nghị quyết số 59-NQ/TW và Văn kiện Đại hội XIV của Đảng có thể nhận thấy một cách tiếp cận mới: Nội lực vẫn giữ vai trò quyết định, nhưng hội nhập được quản trị hiệu quả có thể mở rộng không gian lựa chọn, nâng cao khả ngang chống chịu trước các biến động bên ngoài.
Thứ năm, về chủ thể và thước đo hiệu quả, hội nhập quốc tế chuyển từ mô hình chủ yếu do Nhà nước dẫn dắt sang phát huy vai trò của toàn xã hội, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm. Nếu Nghị quyết 22-NQ/TW nhấn mạnh hội nhập là sự nghiệp của toàn dân và cả hệ thống chính trị, thì Nghị quyết 59-NQ/TW tiếp tục phát triển tư duy này khi xác định người dân và doanh nghiệp vừa là trung tâm, vừa là đối tượng thụ hưởng chính.
Chủ động hội nhập, nâng tầm năng lực quốc gia
Trong kỷ nguyên phát triển mới, hội nhập quốc tế không chỉ dừng ở mở rộng quan hệ mà cần nâng cao chất lượng, hiệu quả và năng lực chủ động. Theo TS Ngô Tuấn Thắng, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, định hướng này đặt ra một số hàm ý quan trọng đối với việc hoạch định và triển khai chính sách hội nhập quốc tế trong thời gian tới.
Trước hết cần chuyển trọng tâm từ mở rộng mức độ hội nhập sang nâng cao chất lượng chuyển hóa hội nhập. Thực tế cho thấy, độ mở kinh tế cao chưa đồng nghĩa với việc gia tăng giá trị nội địa và năng lực công nghệ. Vì vậy, hiệu quả hội nhập cần được đánh giá qua giá trị gia tăng nội địa, mức độ tham gia chuỗi cung ứng, khả năng tiếp thu công nghệ, năng suất và năng lực đổi mới sáng tạo.

Cùng với nâng cao chất lượng hội nhập, đa dạng hóa quan hệ quốc tế và tăng cường nội lực là hai trụ cột bổ trợ, góp phần củng cố tự chủ chiến lược. Việt Nam cần nhận diện các điểm phụ thuộc chiến lược về thị trường, nguyên liệu, năng lượng, công nghệ, tài chính và hạ tầng số để chủ động xây dựng phương án thay thế, giảm thiểu rủi ro. Cách tiếp cận này phù hợp với tinh thần phát huy nội lực, tranh thủ ngoại lực của Nghị quyết số 59-NQ/TW.
Một yêu cầu quan trọng khác là đẩy mạnh chuyển dịch từ hội nhập thị trường sang hội nhập về tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Đại hội XIV nhấn mạnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và nguồn nhân lực chất lượng cao. Chính sách hội nhập vì vậy cần gắn thu hút đầu tư với chuyển giao công nghệ, phát triển nhà cung cấp trong nước, đào tạo nhân lực và hợp tác nghiên cứu; đồng thời nâng cao vai trò của trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp công nghệ trong các mạng lưới tri thức quốc tế.
Trên nền tảng nâng cao nội lực và năng lực đổi mới sáng tạo, Việt Nam cần tăng cường khả năng tham gia kiến tạo thể chế quốc tế thông qua phát triển năng lực dự báo, pháp lý, đàm phán và chuyên môn kỹ thuật, đồng thời huy động giới nghiên cứu, doanh nghiệp và chuyên gia tham gia xây dựng chương trình nghị sự, tiêu chuẩn trong các lĩnh vực như thương mại số, trí tuệ nhân tạo, tiêu chuẩn xanh, dữ liệu và an ninh phi truyền thống.
"Để hiện thực hóa những định hướng trên, Việt Nam cần chuyển từ hoàn thiện chính sách sang xây dựng năng lực hội nhập quốc gia đồng bộ. Nghị quyết số 153/NQ-CP ngày 31/5/2025 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 59-NQ/TW về hội nhập quốc tế trong tình hình mới nhấn mạnh yêu cầu phối hợp liên ngành, liên cấp, đồng thời phát triển năng lực hoạch định chính sách, thực thi thể chế, năng lực doanh nghiệp, khoa học - công nghệ và nguồn nhân lực", TS Ngô Tuấn Thắng cho biết.









