
“Tôi không thấy có bất kỳ sự cản trở nào đối với hoạt động tín ngưỡng tại Việt Nam. Sau gần hai năm sinh sống và làm việc tại đây, điều tôi quan sát được là mọi người đều có thể thực hành và thể hiện đức tin của mình một cách bình thường, không gặp trở ngại gì...”.
Đó là chia sẻ của Đại sứ Sri Lanka Poshitha Perera khi trả lời phỏng vấn Báo Điện tử VTC News về tình hình tự do tôn giáo tại Việt Nam.

Không chỉ Đại sứ Sri Lanka, Đại sứ Cuba Rogelio Polanco Fuentes và Đại sứ Lào Khamphao Ernthavanh cũng đưa ra những đánh giá tích cực về môi trường tín ngưỡng, tôn giáo tại Việt Nam. Dù tiếp cận từ những góc nhìn khác nhau, ba nhà ngoại giao đều cho rằng đời sống tôn giáo tại Việt Nam đang diễn ra đa dạng, ổn định, được bảo đảm bằng khuôn khổ pháp luật và ngày càng mở rộng giao lưu với cộng đồng quốc tế.
Đời sống tín ngưỡng phát triển mạnh mẽ
Theo số liệu của Bộ Ngoại giao Việt Nam, hiện Việt Nam đã công nhận và cấp chứng nhận đăng ký hoạt động cho 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo khác nhau. Cả nước có hơn 27,7 triệu tín đồ, trên 61.000 chức sắc, gần 145.000 chức việc và gần 30.000 cơ sở thờ tự.
Bên cạnh các tôn giáo lớn như Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, nhiều hình thức tín ngưỡng truyền thống như thờ cúng tổ tiên, tín ngưỡng thờ Mẫu hay thờ Thành hoàng làng tiếp tục được bảo tồn và phát huy giá trị trong đời sống cộng đồng.
“Tôi thấy các Phật tử đến chùa, rất nhiều nhà thờ Công giáo trên khắp đất nước. Các tín đồ đến hành lễ thường xuyên. Ngay cả người Hồi giáo cũng đang thực hành đức tin của mình”, ông Poshitha Perera, Đại sứ Sri Lanka, chia sẻ.
Theo ông, nhiều đánh giá từ bên ngoài đôi khi xuất phát từ sự khác biệt về cách tiếp cận giữa các khu vực, trong khi thực tiễn đời sống tôn giáo ở châu Á không phải lúc nào cũng hoàn toàn tương đồng với hệ quy chiếu của phương Tây.
Theo Đại sứ Sri Lanka, một điểm đáng chú ý tại Việt Nam là không phải tất cả những người có đời sống tâm linh đều đăng ký mình thuộc một tôn giáo cụ thể.
Ông dẫn việc hàng triệu người tham gia chiêm bái xá lợi Phật trong dịp Đại lễ Vesak 2025 vừa qua để thấy rằng quy mô thực hành tín ngưỡng trong thực tế có thể lớn hơn rất nhiều so với các số liệu thống kê chính thức.
“Nhiều người không đăng ký tôn giáo nhưng vẫn thực hành đức tin của mình. Họ vẫn đi lễ, vẫn thờ phụng tại gia đình và tham gia các hoạt động tâm linh”, ông nhận xét.
Theo nhà ngoại giao này, điều đó cho thấy đời sống tín ngưỡng tại Việt Nam đang diễn ra một cách tự nhiên trong xã hội, vượt ra ngoài những con số thống kê đơn thuần.
Cũng theo Đại sứ Poshitha Perera, việc Việt Nam nhiều lần đăng cai thành công Đại lễ Phật đản Liên Hợp Quốc (Vesak) là minh chứng rõ nét cho môi trường sinh hoạt tôn giáo cởi mở và năng động. Đánh giá về công tác tổ chức của Việt Nam, ông cho rằng quy mô và cách thức tổ chức không khác biệt so với những quốc gia có truyền thống Phật giáo lâu đời.
“Tôi từng tham dự Đại lễ Vesak Liên Hợp Quốc năm 2017 tại Sri Lanka và những gì Việt Nam thực hiện cũng tương tự như vậy. Thậm chí Việt Nam còn tổ chức với quy mô lớn hơn ở nhiều khía cạnh”, ông nói.

Khung pháp lý tiếp tục được hoàn thiện
Đồng tình với ý kiến của Đại sứ Sri Lanka, Đại sứ Cuba Rogelio Polanco Fuentes cho rằng Việt Nam có đầy đủ tự do tín ngưỡng và tôn giáo, được thể hiện rõ trong Hiến pháp và tiếp tục được cụ thể hóa thông qua hệ thống pháp luật.
“Chúng tôi thấy được sự tôn trọng và bảo vệ quyền của mọi người dân theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Đồng thời, các tổ chức tôn giáo cũng được bảo vệ và tạo điều kiện thực hiện các hoạt động tín ngưỡng, lễ nghi của mình”, ông nói.
Đại sứ Cuba đánh giá Việt Nam là “một tấm gương về sự chung sống hòa bình giữa các tín ngưỡng và tôn giáo khác nhau”, đồng thời cho rằng sự tham gia đông đảo của người dân vào các lễ hội, hoạt động tâm linh cho thấy quyền tự do tín ngưỡng không chỉ được quy định trong pháp luật mà còn được thể hiện sinh động trong đời sống xã hội.

Ông nhắc tới việc Quốc hội Việt Nam vừa thông qua Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo (sửa đổi), coi đây là bước tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý phù hợp với bối cảnh phát triển mới.
“Đây là minh chứng cho ý chí của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong việc tiếp tục thúc đẩy quyền của người dân được theo một tôn giáo, không theo tôn giáo nào hoặc tham gia các hoạt động của các tổ chức tôn giáo”, Đại sứ Cuba nhận định.
Theo Đại sứ Cuba, những đánh giá khác nhau về tự do tín ngưỡng, tôn giáo là điều không chỉ Việt Nam mà nhiều quốc gia khác cũng gặp phải. Tuy nhiên, ông cho rằng thước đo quan trọng nhất vẫn là thực tiễn đời sống, nơi người dân được thực hành đức tin và các tổ chức tôn giáo hoạt động, phát triển theo quy định của pháp luật.
Cần đặt trong bối cảnh từng quốc gia
Ở góc độ khu vực và hội nhập quốc tế, Đại sứ Lào Khamphao Ernthavanh cho rằng hoạt động đối ngoại tôn giáo đang ngày càng trở thành một kênh quan trọng giúp Việt Nam tăng cường giao lưu và quảng bá hình ảnh đất nước.
Theo bà, việc cộng đồng quốc tế nhiều lần tin tưởng lựa chọn Việt Nam đăng cai Đại lễ Vesak Liên Hợp Quốc là minh chứng cho vai trò tích cực của Việt Nam trong thúc đẩy đối thoại giữa các nền văn hóa và tôn giáo.

Việc áp dụng một hệ tiêu chuẩn duy nhất cho mọi quốc gia có thể chưa phản ánh đầy đủ thực tiễn đa dạng của thế giới.
Đại sứ Lào tại Việt Nam Khamphao Ernthavanh
Đại sứ Lào nhận định, với hai quốc gia có nhiều nét tương đồng về văn hóa và truyền thống Phật giáo như Việt Nam và Lào, các hoạt động giao lưu tôn giáo còn góp phần củng cố quan hệ hữu nghị giữa Nhân dân hai nước, tăng cường sự gắn kết trong Cộng đồng ASEAN.
Bà cũng đánh giá ngoại giao tôn giáo đang trở thành một bộ phận quan trọng trong chính sách đối ngoại của Việt Nam. Thông qua việc đón tiếp các đoàn lãnh đạo tôn giáo, học giả quốc tế và tham gia các diễn đàn đa phương, Việt Nam có thêm điều kiện giới thiệu đầy đủ hơn về chính sách bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, góp phần nâng cao hình ảnh, uy tín và vị thế của mình trong cộng đồng quốc tế.
Đề cập đến những đánh giá quốc tế về tự do tín ngưỡng, tôn giáo, Đại sứ Lào cho rằng sự khác biệt về phương pháp tiếp cận dẫn đến những kết luận khác nhau là điều dễ hiểu.
Theo bà, nhiều quốc gia phương Tây thường đặt trọng tâm vào quyền tự do của từng cá nhân, trong khi nhiều nước châu Á, trong đó có Việt Nam, xem xét vấn đề này trong mối quan hệ hài hòa giữa quyền tự do cá nhân với lợi ích cộng đồng, đoàn kết dân tộc và ổn định xã hội.
“Mỗi quốc gia đều có lịch sử, văn hóa và truyền thống tôn giáo khác nhau. Vì vậy, việc áp dụng một hệ tiêu chuẩn duy nhất cho mọi quốc gia có thể chưa phản ánh đầy đủ thực tiễn đa dạng của thế giới”, bà nói.
Theo Đại sứ Lào, để các đánh giá quốc tế khách quan và cân bằng hơn, cần xem xét đầy đủ bối cảnh lịch sử, văn hóa, pháp luật và điều kiện phát triển của từng quốc gia; đồng thời tăng cường đối thoại trực tiếp với chính phủ, các tổ chức tôn giáo và cộng đồng địa phương thay vì chỉ dựa trên một hệ tiêu chí chung.
Đại sứ Lào tại Việt Nam Khamphao Ernthavanh cho rằng, bên cạnh việc xem xét khuôn khổ pháp lý, các đánh giá cũng cần phản ánh thực tiễn bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, thể hiện qua sự phát triển của các tổ chức tôn giáo, việc tổ chức các hoạt động tín ngưỡng cũng như những đóng góp của các tổ chức này đối với giáo dục, y tế, công tác từ thiện và phát triển cộng đồng.
“Các đánh giá sẽ có giá trị hơn nếu được xây dựng trên tinh thần tôn trọng sự đa dạng, đối thoại, hợp tác và hiểu biết lẫn nhau, thay vì dựa trên những định kiến hoặc cách tiếp cận mang tính áp đặt”, Đại sứ Lào Khamphao Ernthavanh khẳng định.








