Phát triển công nghệ lõi, công nghệ chiến lược không chỉ cần nguồn lực mà trước hết phải có cơ chế đủ mạnh để khuyến khích đổi mới sáng tạo. Đây là thông điệp xuyên suốt được Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng nhấn mạnh tại Phiên họp chuyên đề về thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo mới đây. Trong đó, yêu cầu tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế, rút ngắn khoảng cách từ nghiên cứu đến thương mại hóa sản phẩm và xây dựng cơ chế tài chính đột phá được xác định là nhiệm vụ cấp thiết.

Trở về sau bốn năm học tập, nghiên cứu tại Nhật Bản, TS. Vũ Quang Minh cùng nhóm nghiên cứu tại Khoa Viễn thông 1, Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông đang theo đuổi công nghệ mã hóa lượng tử - một lĩnh vực được kỳ vọng sẽ bảo đảm an toàn cho các giao dịch số và hạ tầng viễn thông trong tương lai. Tuy nhiên, để biến những ý tưởng nghiên cứu thành sản phẩm công nghệ không phải là điều dễ dàng.
“Yếu tố quan trọng nhất là về các thiết bị nghiên cứu. Bởi nếu làm lý thuyết không thôi thì rất là khó khi chúng ta nghiên cứu các công nghệ mới. Thiết bị thì kinh phí của nó khá là lớn thì cũng khó để các nhà nghiên cứu có thể tự kiếm được hay tự mua được để tiến hành nghiên cứu hàng ngày”, TS. Vũ Quang Minh.
Không chỉ thiếu trang thiết bị hiện đại, nhiều nhà khoa học cho rằng rào cản lớn hơn nằm ở cơ chế quản lý và tài chính. Trong nhiều năm, việc triển khai một nhiệm vụ khoa học vẫn phải trải qua nhiều tầng thủ tục, từ phê duyệt, cấp kinh phí đến thanh quyết toán. Trong khi đó, nghiên cứu khoa học luôn tiềm ẩn rủi ro, không phải nhiệm vụ nào cũng có thể thành công ngay từ lần đầu. GS.TS Lê Huy Hàm - Chủ nhiệm Chương trình Công nghệ sinh học Quốc gia chia sẻ, quá trình phê duyệt các nhiệm vụ KHCN rất mất thời gian, tối thiểu là mất 3 tháng, dài hơn thì mất 6 tháng, thậm chí là có thể còn dài hơn nữa.
Để tháo gỡ những "điểm nghẽn" này, Bộ Khoa học và Công nghệ cho biết, đã và đang xây dựng và hoàn thiện cơ chế quản lý theo hướng chuyển mạnh từ quản lý đầu vào sang quản lý theo kết quả đầu ra. Trọng tâm là triển khai cơ chế khoán chi đến sản phẩm cuối cùng, cho phép các tổ chức chủ trì và nhóm nghiên cứu chủ động sử dụng kinh phí để hoàn thành mục tiêu đã cam kết, thay vì phải giải trình chi tiết từng khoản chi như trước. Cách tiếp cận này được kỳ vọng sẽ trao thêm quyền tự chủ cho các nhà khoa học, giảm đáng kể gánh nặng thủ tục hành chính, đồng thời khuyến khích các nhóm nghiên cứu mạnh dạn theo đuổi những hướng nghiên cứu mới, chấp nhận rủi ro để tạo ra các đột phá về công nghệ.
“Hiện nay chúng ta đã có những cơ chế để tháo bỏ những rào cản về hành chính trong thời gian qua, nhưng cần có sự đột phá mạnh hơn nữa, mạnh dạn cởi bỏ những thủ tục hành chính để chúng ta khoán đến sản phẩm cuối cùng. Chúng ta có thể thí điểm một số lĩnh vực trước, những lĩnh vực mang tính chất cấp thiết chẳng hạn như liên quan đến cam kết của Chính phủ tại COP 26 về chuyển dịch năng lượng, kinh tế tuần hoàn, NetZero… thì chúng ta mạnh dạn có cơ chế đặc thù, để chúng ta nhanh có sản phẩm đóng góp cho Việt Nam và chuyển giao hội nhập với xu thế toàn cầu”, GS.TS Hồ Thị Thanh Vân - Trường Đại học Tài nguyên và môi trường TPHCM bày tỏ.
Song song với cơ chế khoán chi, Bộ Khoa học và Công nghệ cũng đổi mới hoạt động của Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia, hướng tới phương thức tài trợ linh hoạt hơn, lựa chọn các nhiệm vụ có khả năng tạo ra công nghệ lõi, sản phẩm chiến lược và giá trị gia tăng cao.
Việc chuyển từ tài trợ các đề tài đơn lẻ sang hỗ trợ các cụm nhiệm vụ theo bài toán lớn được kỳ vọng sẽ tạo ra những sản phẩm có sức lan tỏa, đồng thời thu hút sự tham gia của doanh nghiệp ngay từ đầu quá trình nghiên cứu.
Ông Lê Đình Hanh - Phó giám đốc Quỹ Phát triển Khoa học và công nghệ Quốc gia (Bộ Khoa học và Công nghệ) cho biết, tập trung chuyển cơ chế quản lý từ đề tài riêng biệt, nhỏ lẻ thành một nhóm các cụm, nhóm đề tài, cụm đề tài để giải quyết một vấn đề mang tính chiến lược. Từ đó thì sẽ hình thành các sản phẩm chiến lược.
“Đổi mới cơ chế đặt hàng tài trợ thông qua quỹ phát triển khoa học công nghệ quốc gia. Ở đây Quỹ khoa học công nghệ quốc gia sẽ thúc đẩy cơ chế đặt hàng, cơ chế đồng tài trợ đặt hàng theo mô hình ba nhà: nhà nước, nhà khoa học và doanh nghiệp. Từ đó thì sẽ xác định được các bài toán cụ thể để đặt hàng, tài trợ theo kết quả đầu ra”, ông Lê Đình Hanh cho biết.
Nhằm thúc đẩy sự bứt phá của khoa học và công nghệ tại Việt Nam, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 21/2026 về Danh mục công nghệ chiến lược và Danh mục sản phẩm công nghệ chiến lược và Quyết định 808 về Giao nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược.
Nếu Quyết định 21 là khung chiến lược thì Quyết định 808 là bước chuyển sang hành động, với các nhiệm vụ được thiết kế theo chuỗi từ xác định bài toán lớn, lựa chọn công nghệ lõi đến thương mại hóa sản phẩm và mở rộng thị trường. Tuy nhiên, đổi mới cơ chế tài chính mới chỉ là một phần của bài toán. Muốn hình thành năng lực công nghệ quốc gia, cần chiến lược đồng bộ, xác định rõ công nghệ ưu tiên, sản phẩm cần làm chủ và chủ thể triển khai.
Ông Lưu Quang Minh – Phó vụ trưởng Vụ Khoa học kỹ thuật và công nghệ (Bộ Khoa học và Công nghệ) khẳng định, phát triển công nghệ chiến lược không phải là nhiệm vụ riêng của Bộ KHCN. Bộ KHCN là đơn vị điều phối, hướng dẫn, kết nối, hoàn thiện cơ chế và kiến tạo hệ sinh thái.
“Các bộ ngành là các chủ thể xác định bài toán lớn trong phạm vi quản lý. Các địa phương phải xác định nhu cầu và không gian thử nghiệm. Doanh nghiệp giữ vai trò triển khai, đầu tư, thương mại hóa và mở rộng thị trường. Các viện nghiên cứu, trường đại học thì cung cấp nguồn lực tri thức, công nghệ lõi và nguồn nhân lực chất lượng cao”, ông Lưu Quang Minh cho biết.

Việc xây dựng các cơ chế mới không chỉ nhằm tháo gỡ khó khăn trước mắt mà còn tạo nền tảng lâu dài để Việt Nam nâng cao năng lực tự chủ công nghệ, phát triển các sản phẩm có sức cạnh tranh quốc tế và từng bước hiện thực hóa mục tiêu xây dựng quốc gia số.
Từ yêu cầu của Thủ tướng về việc khơi thông các điểm nghẽn thể chế đến những giải pháp đang được Bộ Khoa học và Công nghệ triển khai có thể thấy, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đang bước vào giai đoạn phát triển với tư duy mới: lấy kết quả làm thước đo, lấy sản phẩm làm mục tiêu và lấy cơ chế thông thoáng làm động lực.
Khi những "nút thắt" về tài chính và thủ tục được tháo gỡ, các nguồn lực cho nghiên cứu và đổi mới sáng tạo sẽ có điều kiện phát huy hiệu quả, tạo nền tảng để công nghệ chiến lược trở thành động lực tăng trưởng mới của đất nước.








