Thế chân kiềng đối ngoại - quốc phòng - an ninh tạo nên sức mạnh tổng hợp quốc gia

Diệp Thảo/VOV.VN | 04/07/2026, 09:12

VOVLIVE - Xây dựng thế trận gắn kết giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại là chìa khóa để Việt Nam giữ vững thế chủ động chiến lược, hóa giải thách thức từ sớm, từ xa và tận dụng hiệu quả các cơ hội phát triển trong kỷ nguyên mới.

Nghị quyết 06-NQ/TW tập trung cụ thể hoá những quan điểm của đường lối đối ngoại Đại hội XIV với 5 luận điểm lớn mang tính định hình tư tưởng, trong đó luận điểm đầu tiên xác định là nhiệm vụ "trọng yếu, thường xuyên" bên cạnh nhiệm vụ quốc phòng, an ninh.

Tại Hội nghị toàn quốc quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TW về triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIV của Đảng ngày 10/6, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: Đây là bước phát triển lớn về tư duy lãnh đạo của Đảng, theo đó, đối ngoại trở thành một phương thức quan trọng, một nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ và phát triển đất nước. Đối ngoại trong kỷ nguyên mới phải ở vị trí tuyến đầu và trung tâm, góp phần nhận diện và hóa giải nguy cơ xung đột, chiến tranh từ sớm, từ xa, từ nơi xuất phát.

Bước phát triển đột phá về tư duy chiến lược

Theo PGS.TS Vũ Dương Huân, nguyên Giám đốc Học viện Ngoại giao, việc đặt đối ngoại ngang hàng với quốc phòng và an ninh là kết quả của quá trình phát triển tư duy chiến lược kéo dài nhiều nhiệm kỳ.

Nhìn lại lịch sử lập văn kiện, tại Đại hội XIII, mối quan hệ giữa các lĩnh vực đối ngoại, quốc phòng, an ninh đã được đem ra thảo luận, song đồng thuận lúc bấy giờ mới chỉ dừng lại ở việc khẳng định quốc phòng, an ninh là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên. Phải đến Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 24/1/2025 về hội nhập quốc tế trong bối cảnh mới, quan điểm này mới có sự điều chỉnh căn bản.

Nguyên Giám đốc Học viện Ngoại giao phân tích rằng, cả ba lĩnh vực này đều liên quan chặt chẽ đến độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích cốt lõi của quốc gia - dân tộc. Trong lý thuyết chính trị, đây là những lĩnh vực thuộc về "chính trị cấp cao", mang tính sống còn, khác với các vấn đề mang tính sự vụ hay kỹ thuật. Giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại luôn có mối quan hệ biện chứng, hỗ trợ và không thể tách rời. Nếu một trong ba góc của "chiếc kiềng" này không được coi trọng đúng mức, toàn bộ hệ thống bảo vệ lợi ích quốc gia sẽ thiếu đi sự đồng bộ và toàn diện, trực tiếp làm suy giảm hiệu quả của hai yếu tố còn lại.

Sự thay đổi tầm nhìn này trao cho đối ngoại một sứ mệnh lớn lao hơn trong kỷ nguyên mới: Không còn là lực lượng đi sau hỗ trợ hay chỉ làm nhiệm vụ "dọn đường", đối ngoại giờ đây phải đứng ở vị trí tuyến đầu và trung tâm. Như Tổng Bí thư Tô Lâm đã từng khẳng định, tinh thần "trọng yếu, thường xuyên" trong hội nhập quốc tế đòi hỏi Việt Nam phải chủ động tranh thủ tối đa nguồn lực, điều kiện thuận lợi bên ngoài để phục vụ cho mục tiêu bảo vệ Tổ quốc và phát triển đất nước, bảo đảm cao nhất lợi ích của quốc gia và nhân dân.

Hóa giải thách thức địa chính trị và an ninh kinh tế đan xen

Quyết sách nâng tầm đối ngoại xuất phát từ những đòi hỏi gay gắt của thời đại. Đại sứ Phạm Quang Vinh, nguyên Đại sứ Việt Nam tại Hoa Kỳ đã chỉ ra hai chuyển dịch lớn của cục diện thế giới tác động trực tiếp đến Việt Nam.

Thứ nhất là sự đảo lộn trong nhận thức về an ninh toàn cầu. Nếu như trước đây, toàn cầu hóa và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế chủ yếu tạo động lực cho hợp tác và phát triển thì hiện nay, chính sự phụ thuộc ấy lại có thể trở thành điểm yếu chiến lược. Chuỗi cung ứng toàn cầu liên tục đứt gãy, các biện pháp trừng phạt kinh tế được sử dụng như công cụ địa chính trị, cạnh tranh công nghệ ngày càng gay gắt, khiến khái niệm an ninh quốc gia mở rộng vượt xa phạm vi quân sự truyền thống.

Thứ hai là áp lực từ mục tiêu phát triển bền vững của đất nước. Nhìn lại gần 40 năm Đổi mới có thể thấy một bài học xuyên suốt: Muốn phát triển bền vững phải không ngừng nâng cao sức mạnh tổng hợp quốc gia, bao gồm sức mạnh kinh tế, quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Trong bối cảnh hiện nay, nếu nền kinh tế không đủ mạnh, Việt Nam sẽ khó tránh khỏi nguy cơ tụt hậu trước làn sóng cạnh tranh toàn cầu. 

Để hiện thực hóa mục tiêu chiến lược đến năm 2030 đạt mức tăng trưởng hai con số, đồng thời vươn mình trở thành nước phát triển vào năm 2045, Việt Nam không thể đi một mình giữa một thế giới đầy biến động. Đối ngoại phải là chiếc cầu nối khơi thông dòng chảy của vốn, công nghệ và tri thức từ bên ngoài, kết nối sức mạnh nội tại của nền kinh tế, quốc phòng, an ninh với vị thế quốc tế của đất nước.

Đối ngoại - quốc phòng - an ninh tạo nên sức mạnh tổng hợp

Sự thay đổi tầm nhìn này trao cho đối ngoại một sứ mệnh lớn lao hơn trong kỷ nguyên mới: Không còn là lực lượng đi sau hỗ trợ hay chỉ làm nhiệm vụ "dọn đường", đối ngoại giờ đây phải đứng ở vị trí tuyến đầu và trung tâm. Điều này đòi hỏi Việt Nam phải vận hành một nền ngoại giao toàn diện và hiện đại. Đồng thời không ngừng củng cố nội lực quốc gia để tạo nền tảng vững chắc cho hoạt động đối ngoại. Bởi suy cho cùng, hiệu quả của ngoại giao luôn gắn chặt với sức mạnh tổng hợp của đất nước.

"Bài học mà Chủ tịch Hồ Chí Minh từng đúc kết vẫn còn nguyên giá trị: "Thực lực mạnh, ngoại giao sẽ thắng lợi. Thực lực là cái chiêng mà ngoại giao là cái tiếng. Chiêng có to thì tiếng mới lớn". Sức mạnh của ngoại giao không tách rời sức mạnh tổng hợp của quốc gia, từ nền kinh tế phát triển, quốc phòng vững mạnh, xã hội ổn định đến sự đồng thuận của nhân dân", GS.TS Vũ Dương Huân nói.

Theo Đại sứ Phạm Quang Vinh, để hiện thực hóa điều này, trước hết, mọi chủ trương, quyết sách đối ngoại cần được hoạch định trên cơ sở phối hợp chặt chẽ với các lĩnh vực quốc phòng, an ninh và kinh tế. Trong bối cảnh địa chính trị và địa kinh tế ngày càng đan xen, đây không còn là một lựa chọn về mặt chính sách mà đã trở thành yêu cầu tất yếu nhằm bảo đảm mọi quyết định đối ngoại đều phục vụ đồng thời các mục tiêu phát triển và bảo vệ Tổ quốc.

Cùng với đó, sự xuất hiện của hàng loạt thách thức mới, từ cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, biến động chuỗi cung ứng, an ninh công nghệ đến các nguy cơ phi truyền thống, đòi hỏi công tác đối ngoại phải nâng cao năng lực tham mưu chiến lược. Điều này chỉ có thể thực hiện thông qua cơ chế tham vấn rộng mở, huy động trí tuệ của các bộ, ngành, địa phương, cộng đồng doanh nghiệp, các viện nghiên cứu và đội ngũ chuyên gia nhằm đưa ra những dự báo sát thực tiễn và các quyết sách đối ngoại, hội nhập quốc tế kịp thời, hiệu quả.

Bên cạnh đó, tốc độ biến động ngày càng nhanh và khó lường của tình hình quốc tế cũng đặt ra yêu cầu phải xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành đủ mạnh. Các lực lượng nòng cốt, đặc biệt là đối ngoại, quốc phòng và công an, cần thiết lập cơ chế chia sẻ thông tin thường xuyên, tăng cường năng lực phân tích, dự báo chiến lược và xây dựng bộ phận tham mưu đủ khả năng đưa ra những phản ứng chính sách tích hợp, linh hoạt trước mọi diễn biến mới.

Có thể nói, khi địa chính trị, địa kinh tế và các vấn đề an ninh ngày càng hòa quyện vào nhau, công tác tham mưu chiến lược về đối ngoại, quốc phòng, an ninh và kinh tế cũng không thể tiếp cận theo tư duy riêng rẽ.

"Chỉ khi ba trụ cột này được kết nối thành một chỉnh thể thống nhất, phối hợp đồng bộ trong chia sẻ thông tin, hoạch định và triển khai chính sách, Việt Nam mới có thể chủ động ứng phó với những biến động của môi trường quốc tế, bảo vệ vững chắc lợi ích quốc gia - dân tộc và tận dụng hiệu quả các cơ hội phát triển trong kỷ nguyên mới", Đại sứ Phạm Quang Vinh nhấn mạnh

Bài liên quan
Đọc tiếp

(0) Bình luận
Nổi bật VOVLIVE
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Tháo gỡ ngay các điểm nghẽn để thúc đẩy tăng trưởng ít nhất 10%
VOVLIVE - Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đề nghị, Chính phủ phải tổ chức một chương trình hành động đặc biệt cho 6 tháng cuối năm, với tinh thần rõ việc, rõ người, rõ trách nhiệm, rõ thời hạn, rõ kết quả và rõ cơ chế kiểm tra; tháo gỡ ngay các điểm nghẽn để thúc đẩy tăng trưởng ít nhất 10%.
Mới nhất