Nghị quyết số 57 sau 1,5 năm triển khai: Bước chuyển rất lớn trong tư duy và thực thi

08/07/2026, 09:49

VOVLIVE - Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị đang thực sự đi vào cuộc sống, thay đổi cách nghĩ, cách làm và cách đánh giá kết quả của các cơ quan, tổ chức từ trung ương đến địa phương; từ chỗ “triển khai nhiệm vụ” sang yêu cầu “tạo ra sản phẩm cụ thể, kết quả đo lường được và tác động thực chất”.

Tiến sĩ (TS) Đặng Vũ Cảnh Linh, Phó Viện trưởng Viện Đào tạo, Bồi dưỡng Cán bộ và Nghiên cứu khoa học, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nhấn mạnh điều này khi trao đổi với phóng viên Báo Điện tử Tiếng nói Việt Nam về Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia sau 1,5 năm triển khai.

Thưa TS Đặng Vũ Cảnh Linh, nhìn lại chặng đường 1,5 năm triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW, nhiều kết quả được đánh giá là nổi bật, vượt trội cả về nhận thức, thể chế và hành động. Theo ông, đâu là những dấu ấn quan trọng nhất khẳng định Nghị quyết số 57-NQ/TW đã thực sự đi vào cuộc sống và tạo ra những chuyển biến mang tính đột phá?

TS Đặng Vũ Cảnh Linh: Theo tôi, dấu ấn quan trọng nhất sau 1,5 năm triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW là từ chủ trương chiến lược của Bộ Chính trị, cả hệ thống chính trị đã chuyển động đồng thời trên ba phương diện: đổi mới nhận thức phát triển, hoàn thiện thể chế và tổ chức hành động thực tiễn.

Trước đây, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số nhiều khi vẫn được tiếp cận như một lĩnh vực chuyên môn hoặc một công cụ hỗ trợ cho quản lý, sản xuất và cung ứng dịch vụ. Nhưng qua quá trình triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW, cách nhìn nhận đó đã và đang có những thay đổi căn bản.

Ảnh: Sử dụng AI

Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang từng bước được đặt vào vị trí trung tâm của mô hình phát triển quốc gia, ngành, địa phương và trở thành nền tảng quan trọng của tư duy lãnh đạo, điều hành và hoạch định chính sách trong giai đoạn mới.

Dấu ấn thứ nhất là sự thay đổi rất mạnh về nhận thức chính trị và nhận thức xã hội. Nghị quyết số 57-NQ/TW đã làm rõ rằng, trong thế kỷ XXI, sức mạnh quốc gia không chỉ đến từ tài nguyên, lao động giá rẻ hay vốn đầu tư, mà ngày càng đến từ tri thức, công nghệ, dữ liệu, năng lực đổi mới sáng tạo và chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt là nhân lực khoa học, công nghệ.

Minh họa: Sử dụng AI

Dấu ấn thứ hai là chúng ta đã chú trọng xây dựng thể chế và công tác này đã đi trước một bước. Theo báo cáo sơ kết, các cơ quan trong hệ thống chính trị đã xây dựng, trình ban hành hơn 400 văn bản, trong đó có 30 luật; ngân sách bố trí cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đạt 3% tổng chi ngân sách nhà nước, ở mức cao nhất trong 10 năm. Điều này cho thấy triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW thời gian qua không dừng ở khẩu hiệu, mà đã được cụ thể hóa thành hành lang pháp lý, cơ chế tài chính và phương thức quản trị mới.

Dấu ấn thứ ba là chuyển đổi số đã tác động trực tiếp đến người dân, doanh nghiệp và vận hành của hệ thống chính trị. Những con số như 5G phủ khoảng 91,9% dân số, hơn 71 triệu tài khoản định danh điện tử được kích hoạt, tỷ lệ hồ sơ trực tuyến tại địa phương đạt 93,54%, kinh tế số chiếm 14,02% GDP, chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu xếp thứ 44/139 cho thấy đã có những kết quả có thể đo lường được, chứ không chỉ là định hướng chung.

Tôi cho rằng, Nghị quyết số 57-NQ/TW đang thực sự đi vào cuộc sống thay đổi cách nghĩ, cách làm và cách đánh giá kết quả của các cơ quan, tổ chức từ Trung ương đến địa phương. Từ chỗ “triển khai nhiệm vụ”, chúng ta bắt đầu chuyển sang yêu cầu “tạo ra sản phẩm cụ thể, kết quả đo lường được và tác động thực chất”. Đó chính là tinh thần đột phá trong Nghị quyết số 57-NQ/TW và đột phá trong thực hiện Nghị quyết.

Theo ông, điều gì cho thấy chúng ta đang chuyển từ tư duy ứng dụng khoa học, công nghệ để hỗ trợ phát triển sang tư duy lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm nền tảng và động lực tăng trưởng của nền kinh tế?

TS Đặng Vũ Cảnh Linh: Tôi cho rằng, thời gian gần đây, tư duy lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm nền tảng, động lực tăng trưởng của nền kinh tế đã được khẳng định ngày càng rõ trong chỉ đạo chiến lược cũng như trong thực tiễn phát triển của các ngành, lĩnh vực và địa phương.

Thứ nhất, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đã được đặt trong thực tiễn nghiên cứu, phát triển các mô hình tăng trưởng mới. Trước đây, khi nói về tăng trưởng, chúng ta thường nhấn mạnh vốn đầu tư, lao động, tài nguyên, xuất khẩu, đầu tư công. Những yếu tố đó vẫn rất quan trọng, nhưng không còn đủ để đưa đất nước vượt qua bẫy thu nhập trung bình. Muốn phát triển nhanh và bền vững, phải dựa nhiều hơn vào năng suất, tri thức, công nghệ, dữ liệu, đổi mới sáng tạo và chất lượng quản trị. Nghị quyết số 57-NQ/TW đã xác lập rất rõ trục phát triển này.

Thứ hai, chúng ta bắt đầu nhìn dữ liệu như một tư liệu sản xuất mới, một nền tảng quan trọng để hình thành và phát triển lực lượng sản xuất mới. Trong nền kinh tế số, dữ liệu không chỉ dùng để lưu trữ hay báo cáo, mà trở thành nguồn nguyên liệu đặc biệt để phân tích, dự báo, ra quyết định, tạo dịch vụ mới, giảm chi phí xã hội và nâng cao chất lượng quản trị.

Ảnh: Cao Thắng

Khi dữ liệu dân cư, định danh điện tử, dữ liệu tài chính, y tế, giáo dục, đất đai, an sinh xã hội được kết nối, chia sẻ, làm sạch và khai thác đúng cách, chúng ta không chỉ xây dựng được Chính phủ số, mà còn tạo nền tảng cho kinh tế dữ liệu, xã hội số và năng lực quản trị quốc gia theo thời gian thực.

Thứ ba, khoa học, công nghệ đã bắt đầu được gắn với việc giải các bài toán lớn của quốc gia và lợi thế phát triển của địa phương. Việc xác định 10 nhóm công nghệ chiến lược, 30 nhóm sản phẩm công nghệ chiến lược và 20 bài toán lớn quốc gia cho thấy chúng ta không còn làm khoa học, công nghệ theo kiểu phân tán, manh mún, mà bắt đầu tập trung vào những lĩnh vực có khả năng tạo lợi thế cạnh tranh và năng lực tự chủ.

Tôi cho rằng, trong quá trình triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW, chúng ta đang chứng kiến những bước chuyển rất lớn trong hệ tư duy phát triển, đặc biệt là việc gắn khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số với phát triển doanh nghiệp, nâng cao năng suất và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Trước kia, chúng ta thường sử dụng công nghệ để cải thiện một số công đoạn trong quản lý, sản xuất và dịch vụ. Và bây giờ, vấn đề không chỉ là ứng dụng công nghệ vào từng khâu riêng lẻ, mà là dùng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số để tái cấu trúc phương thức phát triển. Đó là điểm mới rất căn bản, đồng thời cũng là yêu cầu rất cao của giai đoạn phát triển đất nước sắp tới.

Dù đạt nhiều kết quả tích cực, việc đưa khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành động lực phát triển vẫn là một quá trình dài hạn. Những điểm nghẽn cần tiếp tục tháo gỡ để giữ được đà tăng tốc sau giai đoạn đầu triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW là gì, thưa ông?

TS Đặng Vũ Cảnh Linh: Theo tôi, sau giai đoạn đầu triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW, điểm nghẽn lớn nhất không còn nằm ở chỗ thiếu chủ trương, mà nằm ở năng lực tổ chức thực hiện và khả năng phối hợp giữa các chủ thể. Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số không thể tạo đột phá nếu bộ, ngành, địa phương, cơ quan quản lý, doanh nghiệp, viện trường, nhà khoa học và người dân vẫn vận hành như những “ốc đảo” riêng lẻ.

Chủ trương đã rất rõ, quyết tâm chính trị đã rất cao, thể chế đang được mở mạnh, nhưng nếu khâu thực thi không theo kịp, nếu dữ liệu không liên thông, nguồn lực không gặp được bài toán thực tiễn, nhà khoa học không kết nối được với doanh nghiệp, còn người dân và doanh nghiệp chưa trở thành trung tâm thụ hưởng, thì đột phá sẽ bị chậm lại.

Ảnh: Nguyễn Hà

Thứ nhất là phải tháo gỡ bằng được điểm nghẽn dữ liệu, vì dữ liệu là nền móng của chuyển đổi số và quản trị quốc gia hiện đại. Hiện nay, dữ liệu ở nhiều nơi vẫn chưa thật sự “đúng, đủ, sạch, sống”; nhiều cơ sở dữ liệu chưa được kết nối, chia sẻ và khai thác hiệu quả.

Phụ lục về các cơ sở dữ liệu chưa kết nối cho thấy vẫn còn nhiều cơ sở dữ liệu ở các bộ, ngành chưa hoàn thành đầy đủ tiêu chí kết nối, trong đó có những lĩnh vực rất quan trọng như y tế, nội vụ, giáo dục, tài chính, xây dựng, văn hóa, dân tộc, ngoại giao.

Thứ hai, cần nghiên cứu, tiếp tục đổi mới cơ chế tài chính và giải ngân, đẩy mạnh việc huy động các nguồn lực, thương mại hóa kết quả nghiên cứu và thúc đẩy thị trường công nghệ. Nguồn lực cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đã được bố trí ở quy mô lớn hơn, nhưng tiến độ giải ngân còn chậm, đặc biệt trong các nhiệm vụ đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Vì vậy, vấn đề trọng tâm hiện nay không chỉ là “bố trí đủ nguồn”, mà là phải biến nguồn lực đó thành nhiệm vụ đủ điều kiện triển khai, thành sản phẩm được vận hành, thành công nghệ được ứng dụng và thành lợi ích được kiểm chứng.


Muốn vậy, cần tháo gỡ đồng thời hai điểm nghẽn: điểm nghẽn đầu tư, giải ngân và điểm nghẽn thương mại hóa. Nhiều kết quả nghiên cứu hiện vẫn dừng ở nghiệm thu, báo cáo, hội thảo, chưa đi tiếp được đến sản phẩm, doanh nghiệp, công nghệ và thị trường.

Cần có cơ chế rõ hơn về sở hữu trí tuệ, định giá tài sản trí tuệ, chuyển giao công nghệ, đặt hàng từ doanh nghiệp, mua sắm công cho sản phẩm công nghệ mới; đồng thời thúc đẩy phát triển thị trường khoa học, công nghệ để tri thức không chỉ nằm trong hồ sơ nghiệm thu, mà trở thành sản phẩm, dịch vụ, năng lực cạnh tranh và giá trị phát triển.

Thứ ba là cần đặc biệt chú trọng đầu tư cho con người và phát triển nhân lực khoa học, công nghệ chất lượng cao. Một trong những nguy cơ cần tránh trong quá trình triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW là đầu tư mạnh vào công nghệ, hạ tầng số, nền tảng số nhưng lại thiếu đội ngũ nhân lực đủ năng lực làm chủ, vận hành, sáng tạo và thương mại hóa công nghệ.

Ảnh: Nguyễn Trang

Nếu chỉ có thiết bị, phần mềm, trung tâm dữ liệu, phòng thí nghiệm mà thiếu con người có trình độ, thiếu chuyên gia công nghệ cao, thiếu nhân lực chuyển đổi số ở cơ sở, thiếu tổng công trình sư, kiến trúc sư trưởng, thiếu cán bộ có năng lực quản trị dữ liệu và công nghệ, thì rất khó tạo ra đột phá thực chất.

Vì vậy, phát triển nhân lực khoa học, công nghệ phải được đặt trong thực tiễn sản xuất, quản lý và đổi mới sáng tạo. Nhà khoa học không thể chỉ ở trong phòng thí nghiệm, mà cần đi vào nhà máy, doanh nghiệp, địa phương, dây chuyền sản xuất và các bài toán phát triển cụ thể.

Ngược lại, người sản xuất, kỹ sư, cán bộ quản lý và doanh nghiệp cũng cần được học tập, cập nhật tri thức, công nghệ mới trong các viện nghiên cứu, trường đại học, phòng thí nghiệm và trung tâm đổi mới sáng tạo. Nói cách khác, phải tạo ra sự luân chuyển tri thức hai chiều giữa viện, trường và doanh nghiệp, giữa nghiên cứu và sản xuất, giữa phòng thí nghiệm và thị trường.

Muốn vậy, cần xây dựng một hệ sinh thái phát triển nhân lực khoa học, công nghệ chất lượng cao. Đào tạo nhân lực khoa học, công nghệ không thể chỉ dừng ở cấp bằng hay chứng chỉ, mà phải hướng tới năng lực giải quyết vấn đề, năng lực làm chủ công nghệ, năng lực đổi mới sáng tạo và năng lực tạo ra sản phẩm có giá trị. Đây chính là nền tảng con người để Nghị quyết số 57-NQ/TW đi vào chiều sâu.

Xin cảm ơn ông!

Tác giả: Ngọc Vũ - Thiết kế: Đồng Toàn

Viết bình luận

This site is protected by reCAPTCHA and the Google Privacy Policy and Terms of Service apply.

Thứ Tư, 05:25, 08/07/2026

VOV.VN trên Google News
Bài liên quan
Đọc tiếp

(0) Bình luận
Nổi bật VOVLIVE
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu Hà Nội tổng rà soát nguồn lực phát triển
VOVLIVE - Chiều nay (8/7), Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tới thăm và chủ trì buổi làm việc với Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội về tình hình thực hiện nhiệm vụ 6 tháng qua, các nhiệm vụ giải pháp nhằm đảm bảo thực hiện thắng lợi nhiệm vụ năm 2026.
Mới nhất