Hành trình phục dựng ký ức và sứ mệnh tri ân của một dân tộc

27/07/2026, 10:23

VOVLIVE - Hành trình tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ vẫn tiếp tục với quyết tâm chưa từng có. Mỗi mẫu ADN, mỗi di vật, mỗi manh mối được nối lại không chỉ giúp người đã khuất trở về mà còn khép lại những cuộc chờ đợi kéo dài qua nhiều thế hệ.

Tháng Bảy lại về, không ồn ào mà sâu thẳm trong trái tim mỗi người con nước Việt. Trên khắp dải đất hình chữ S, khói hương trên những nghĩa trang liệt sĩ bay lên từ mờ sương đến nắng chiều chạng vạng. Trên những dòng sông từng đỏ lửa, nước vẫn chảy như mang theo lời nhắn gửi của bao người lính trẻ. Trên những triền đồi, bến phà, ngã ba, hang đá, cánh rừng từng bị bom đạn cày xới, màu xanh của hòa bình đã phủ lên dấu tích chiến tranh, nhưng trong lòng rất nhiều gia đình, chiến tranh chưa bao giờ thật sự kết thúc.

Chiến tranh chưa kết thúc khi vẫn còn những bàn thờ chỉ có tấm bằng Tổ quốc ghi công mà chưa có một nắm đất quê nhà ôm lấy người đã khuất. Chiến tranh chưa kết thúc khi vẫn còn những người mẹ đã đi hết đời mình mà chưa biết con mình đang nằm lại nơi đâu. Chiến tranh chưa kết thúc khi những người vợ liệt sĩ bạc tóc vẫn giữ thói quen trông ngóng tin chồng, như chờ chồng trở về sau một chuyến đi dài. Chiến tranh chưa kết thúc khi những người con đã ngoài năm, ngoài sáu mươi tuổi vẫn chưa một lần được gọi hai tiếng “Cha ơi” trước một ngôi mộ có họ tên, quê quán.

Kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ, hướng tới 80 năm ngày cả nước tri ân những người có công với cách mạng, chúng ta không chỉ dừng lại ở nén hương, vòng hoa, lễ tưởng niệm. Tri ân hôm nay phải trở thành hành động cụ thể: tìm kiếm, quy tập, xác định danh tính hài cốt liệt sĩ; chăm lo tốt hơn những người có công; gìn giữ ký ức lịch sử; giáo dục thế hệ trẻ biết nhìn về quá khứ để biết ngẩng cao đầu xây dựng tương lai. Đó là sứ mệnh của cả hệ thống chính trị, của mỗi gia đình, mỗi dòng họ, mỗi địa phương và cũng là trách nhiệm thiêng liêng của báo chí cách mạng trong việc giữ cho ngọn lửa tri ân không bao giờ tắt.

Tháng Bảy - từ ký ức đến hành động

Ngày 27/7 ra đời từ những năm đầu của cuộc kháng chiến, khi đất nước còn bộn bề gian khó nhưng Đảng, Bác Hồ và Nhà nước vẫn chọn một ngày để đồng bào cả nước cùng bày tỏ lòng hiếu nghĩa đối với thương binh, bệnh binh, liệt sĩ và gia đình người có công. Từ Đại Từ, Thái Nguyên năm 1947, mốc thời gian ấy đi vào đời sống tinh thần của dân tộc như một lời nhắc nhở, khắc cốt ghi tâm: độc lập, tự do, thống nhất và hạnh phúc hôm nay không tự nhiên mà có. Đó là thành quả được đổi bằng máu xương, tuổi trẻ và cả những cuộc chờ đợi kéo dài qua nhiều thế hệ.

Bảy mươi chín năm đã qua, đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” chưa bao giờ cũ. Càng đi xa khỏi chiến tranh, chúng ta càng thấm thía hơn giá trị của hòa bình. Những tuyến đường thênh thang hôm nay từng có những đoàn xe vượt bom ra tiền tuyến. Những mái trường sáng đèn hôm nay từng có những cô gái, chàng trai rời trang vở để xông vào lửa đạn. Những thành phố bình yên hôm nay được dựng xây trên sự hy sinh của những người mãi mãi tuổi đôi mươi. Mỗi tấc đất quê hương, mỗi mùa lúa trĩu hạt, mỗi tiếng trẻ thơ đến lớp đều có một phần máu thịt của những người đã đi vào bất tử.

Nhưng tri ân không thể chỉ là cảm xúc theo mùa. Tri ân phải là một năng lực tổ chức Quốc gia, một quyết tâm chính trị, một chương trình hành động được đo bằng kết quả cụ thể. Khi còn những liệt sĩ chưa được tìm thấy, còn những phần mộ chưa xác định danh tính, còn những hồ sơ chưa khớp nối với thân nhân, còn những di vật đang nằm im trong lòng đất, thì tháng Bảy vẫn phải là tháng của hành động, của những bước chân trở lại chiến trường xưa, của những cuộc rà soát hồ sơ, của từng mẫu ADN được thu nhận và đối sánh trong niềm hy vọng.

Hai tiếng “Đồng bào” và lời hứa không để ai bị lãng quên

Có lẽ hiếm có dân tộc nào gọi nhau bằng hai tiếng vừa gần gũi vừa thiêng liêng như “đồng bào”. Trong tâm thức Việt Nam, hai tiếng ấy đi ra từ truyền thuyết Cha Lạc Long Quân và Mẹ Âu Cơ, từ bọc trăm trứng nở thành trăm người con. Vì thế, “đồng bào” không chỉ là một cách gọi những người cùng quốc tịch. Đó là ký ức về chung một cội nguồn, chung một nghĩa tình, chung một bổn phận nương tựa nhau trong hoạn nạn.

Trong chiến tranh, hai tiếng “đồng bào” đã làm nên sức mạnh để lớp lớp người con ra trận, để hậu phương nhường cơm sẻ áo cho tiền tuyến, để những người mẹ tiễn con đi mà giấu nước mắt vào trong. Trong hòa bình, hai tiếng ấy tiếp tục vang lên trong những việc tưởng nhỏ mà lớn: một người dân cung cấp thông tin về khu mộ cũ; một cựu chiến binh run run kể lại tọa độ nơi chôn đồng đội; một gia đình gìn giữ lá thư đã ố vàng; một thanh niên giúp ông bà số hóa giấy báo tử, nhật ký, ảnh cũ; một người xa lạ nhường lượt lấy mẫu ADN cho thân nhân của một liệt sĩ vừa được phát hiện di vật.

Đền ơn đáp nghĩa vì vậy không thể chỉ là phong trào. Đó là món nợ lớn với thời gian và lịch sử. Làm bao nhiêu cũng không đủ, bởi không gì có thể bù đắp nổi tuổi thanh xuân đã hóa thành đất nước, không liều thuốc nào chữa lành trọn vẹn vết thương lòng của những người mẹ, người vợ, người con đã chờ đợi quá lâu. Nhưng mỗi mẫu sinh phẩm được thu nhận, mỗi mảnh di vật được phục dựng, mỗi hồ sơ được số hóa, mỗi lời kể được ghi âm, mỗi tọa độ được kiểm chứng chính là một nén tâm hương cụ thể, một bước gần hơn để đưa các anh trở về.

Chiến dịch 500 ngày đêm: Khi đạo lý gặp khoa học, ký ức trở thành dữ liệu sống

“Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ” được triển khai từ ngày 15/3/2026 đến ngày 27/7/2027, hướng tới kỷ niệm 80 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ. Đây là chiến dịch có tính toàn diện, quy mô lớn nhất từ trước đến nay nhằm tạo đột phá trong công tác tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ còn thiếu thông tin.

Chiến dịch đặt mục tiêu tìm kiếm, quy tập khoảng 7.000 hài cốt liệt sĩ; hoàn thành lấy mẫu đối với khoảng 230.000 ngôi mộ liệt sĩ chưa xác định được thông tin; giám định ADN khoảng 18.000 mẫu hài cốt liệt sĩ; xây dựng và đưa vào vận hành cơ sở dữ liệu gen thân nhân liệt sĩ; đồng thời hoàn thành công tác rà phá bom mìn, vật nổ tại các địa bàn trọng điểm phục vụ tìm kiếm, quy tập.

Nhìn từ quản trị quốc gia, đó là những chỉ tiêu lớn, đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ giữa Bộ Quốc phòng, Bộ Nội vụ, Bộ Công an, các địa phương, các cơ quan chuyên môn, các viện giám định, lực lượng rà phá bom mìn, chính quyền cơ sở và nhân dân. Nhưng nhìn từ nỗi chờ đợi của từng gia đình, những con số ấy không hề khô khan. Một mẫu ADN có thể nối lại cha với con, anh với em, người lính với quê nhà. Một mảnh giấy còn sót chữ có thể mở ra danh tính của một con người. Một lời kể có thể dẫn đội quy tập đến đúng con suối, triền núi, khu vườn, nghĩa địa cũ nơi đồng đội năm xưa nằm lại.

Số liệu cập nhật đến ngày 26/7/2026

  •  Các lực lượng đã tìm kiếm, quy tập được 1.491 hài cốt liệt sĩ, gồm 467 hài cốt trong nước, 174 hài cốt tại Lào và 850 hài cốt tại Campuchia.
  • Đã phát hiện, quy tập 10 mộ liệt sĩ tập thể; riêng Tuyên Quang phát hiện 5 mộ tập thể với khoảng 23 hài cốt; khu vực Công viên Lê Thị Riêng, Thành phố Hồ Chí Minh tìm thấy 104 hài cốt liệt sĩ cùng 5 bộ hài cốt tập thể, khoảng 13 hài cốt liệt sĩ.
  • 32 đội tìm kiếm, quy tập với 1.541 người được huy động, trong đó có 13 đội trong nước và 19 đội làm nhiệm vụ ở nước ngoài, gồm 8 đội tại Lào và 11 đội tại Campuchia.
  • 13 lễ truy điệu, an táng đã được tổ chức, đón nhận và an táng 735 hài cốt liệt sĩ.
  • Đã lấy mẫu hài cốt đối với 80.882 mộ liệt sĩ; trong đó 56.425 mộ đủ điều kiện lấy mẫu, đạt 69,76%.
  • Đã thu nhận 93.464 mẫu ADN thân nhân liệt sĩ; 53.036 mẫu đã được phân tích và đồng bộ vào cơ sở dữ liệu phục vụ đối sánh.
  • Đã tiếp nhận, lưu trữ, bảo quản 15.729 mẫu hài cốt liệt sĩ từ các địa phương; Viện Pháp y Quân đội đã tiếp nhận 13.231 mẫu từ 15/17 tỉnh, thành phố tham gia chương trình và thực hiện giám định 130 mẫu.
  • Công tác rà phá bom mìn, vật nổ đạt 8.462,16 ha trên tổng số 22.725 ha, tương đương 37,24% kế hoạch; riêng vùng lõi Vị Xuyên, Tuyên Quang đạt 3.566,7 ha trên tổng số 4.460 ha, tức 79,97% kế hoạch.

Những kết quả ấy cho thấy lòng tri ân của dân tộc hôm nay đang được tổ chức bằng cả trái tim và trí tuệ: bằng nén hương và công nghệ, bằng ký ức của nhân chứng và dữ liệu số, bằng bàn tay người lính quy tập và những thiết bị hiện đại soi tìm dưới lòng đất, bằng nghi lễ tâm linh trang nghiêm và quy trình khoa học chặt chẽ. Đó chính là điểm gặp gỡ giữa đạo lý ngàn đời và năng lực hiện đại của quốc gia.

Tiếng gọi từ lòng đất công viên Lê Thị Riêng

Giữa Thành phố Hồ Chí Minh sôi động, Công viên Văn hóa Lê Thị Riêng hiện lên như một khoảng xanh thanh bình. Dưới những lối đi rợp bóng cây, dưới tiếng cười nói của người dân mỗi ngày, ít ai hình dung nơi đây từng là khu vực Nghĩa trang Đô Thành cũ, còn gọi là nghĩa địa Chí Hòa, gắn với những ký ức bi tráng của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân năm 1968. Gần sáu thập kỷ trôi qua, trong lòng đất mẹ vẫn âm thầm ôm giữ những người con đã ngã xuống trong bão lửa.

Hành trình tìm kiếm tại công viên Lê Thị Riêng là một cuộc phục dựng ký ức công phu và đầy kính cẩn. Từ hồ sơ lịch sử, ảnh tư liệu, bản đồ quân sự, tài liệu lưu trữ trong và ngoài nước, lời kể của nhân chứng, đến khảo sát bằng radar xuyên đất, đo điện trở suất, phân tích địa vật lý, các lực lượng chức năng từng bước khoanh vùng những tín hiệu bất thường dưới lòng đất. Đó không chỉ là thao tác kỹ thuật; đó là cách thế hệ hôm nay cúi đầu lắng nghe tiếng lòng đất mẹ, lắng nghe những lời chưa kịp nói của đồng đội năm xưa.

Khi rãnh mộ tập thể được mở ra, từng lớp đất được bóc tách chậm rãi, tỉ mỉ. Các chiến sĩ quy tập không chỉ đào đất, mà nâng niu từng mảnh xương, từng tấm tăng mục nát, từng viên đạn, từng chiếc ví, từng mảnh giấy đã ngả màu thời gian. Có những hài cốt nằm bên nhau, như thể khoảnh khắc cuối cùng trước khi ngã xuống, những người lính vẫn còn tựa vào nhau với lời thề “Sống bám đá, chết hóa đá thành bất tử” của người lính Vị Xuyên năm xưa. Họ đã chiến đấu bên nhau, hy sinh bên nhau, nằm lại bên nhau và giờ đây cùng nhau trở về trong vòng tay Tổ quốc.

Đặc biệt xúc động là di vật liên quan đến liệt sĩ Huỳnh Văn Quên. Trên một tờ giấy còn đọc được những cụm từ “Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam”, “Ban Chỉ huy Tiểu đoàn quyết định”, “Đồng chí Huỳnh Văn Quên”, cùng phiên hiệu đơn vị. Qua đối chiếu phiên hiệu và tư liệu lịch sử, cơ quan chức năng bước đầu xác định đây là liệt sĩ Huỳnh Văn Quên, chiến sĩ Tiểu đoàn 1 Long An thuộc Quân Giải phóng miền Nam, đơn vị từng tham gia trận đánh khu vực cầu Chữ Y năm 1968. Dù công tác đối chiếu ADN vẫn cần được thực hiện nghiêm ngặt để khẳng định bằng căn cứ khoa học, tên anh đã vang lên giữa tháng Bảy như một tiếng gọi trở về sau gần sáu mươi năm.

Từ con số ban đầu vài bộ hài cốt được phát hiện, đến ngày 26/7/2026, khu vực công viên Lê Thị Riêng đã tìm thấy 104 hài cốt liệt sĩ cùng 5 bộ hài cốt tập thể, khoảng 13 hài cốt liệt sĩ, và nhiều di vật. Mỗi phát hiện ở nơi đây không chỉ bổ sung dữ liệu cho một cuộc tìm kiếm cụ thể; nó còn đánh thức trong ký ức đô thị một tầng lịch sử đã bị thời gian phủ lấp, để thành phố hôm nay hiểu sâu hơn cái giá của hòa bình đang có.

Anh: Lực lượng chức năng tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ tại Công viên Lê Thị Riêng, Tp HCM.

Từ Minh Đức, Tuyên Quang đến đất bạn Lào, Campuchia

Không chỉ ở Công viên Lê Thị Riêng, hành trình tháng Bảy năm nay còn mở ra nhiều điểm tìm kiếm mới. Tại khu vực xã Minh Đức, thành phố Đồng Nai, các lực lượng đã triển khai tìm kiếm, quy tập tại một địa bàn từng diễn ra nhiều trận đánh ác liệt trong giai đoạn 1967-1975. Khu vực phát hiện hài cốt nằm trên sườn tây bắc điểm cao 74, ấp Đồng Dầu, nơi từng là trung tâm của trận càn “Tìm kiếm và Phong tỏa Minh Đức” tháng 11/1969. Đến ngày 20/7/2026, lực lượng chức năng đã phát hiện 21 bộ hài cốt cùng nhiều di vật của liệt sĩ.

Tại Tuyên Quang, trong đó có vùng lõi Vị Xuyên, nơi từng diễn ra những trận đánh khốc liệt bảo vệ biên giới phía Bắc. Công tác rà phá bom mìn, vật nổ và tìm kiếm mộ tập thể được đẩy nhanh. Năm mộ tập thể với khoảng 23 hài cốt liệt sĩ đã được phát hiện. Con số ấy một lần nữa nhắc chúng ta rằng chiến tranh bảo vệ Tổ quốc sau năm 1975 cũng để lại những nỗi đau chưa khép lại, những người lính chưa trở về, những đỉnh núi, khe sâu, cao điểm vẫn còn giữ trong lòng mình nhiều bí mật của đồng đội.

Trên đất bạn Lào và Campuchia, các đội quy tập vẫn âm thầm vượt rừng, băng suối, lần theo từng manh mối. Mùa mưa, sốt rét, địa hình hiểm trở, ký ức nhân chứng phai mờ, bom mìn còn sót lại, tất cả làm cho công việc tìm kiếm càng gian nan. Nhưng nghĩa tình quốc tế trong sáng và lời hứa với đồng đội đã giữ những bước chân ấy không dừng lại. Mỗi hài cốt liệt sĩ quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam được đưa về đất mẹ là một lần cả nước nghiêng mình trước sự hy sinh vượt ra ngoài biên giới địa lý, vì nghĩa vụ quốc tế cao cả, vì tình đoàn kết thủy chung giữa các dân tộc.

Chúng ta có thể đo kết quả chiến dịch bằng số hài cốt được quy tập, số mẫu ADN được thu nhận, số héc-ta bom mìn được rà phá. Nhưng còn một thứ không thể đo bằng số liệu: đó là cảm giác yên lòng của người mẹ, người vợ, người con sau hàng chục năm chờ đợi, người thân có thêm một cơ hội được gọi đúng tên. Đó là sự thanh thản của đồng đội khi lời hứa “còn sống còn tìm nhau” được tiếp tục bằng trách nhiệm của thế hệ hôm nay.

Những địa chỉ đỏ và những câu chuyện không thể lãng quên

Trên bản đồ ký ức Việt Nam, có những địa danh chỉ cần gọi tên đã khiến lòng người chùng xuống. Ngã ba Đồng Lộc là nơi mười cô gái thanh niên xung phong Tiểu đội 4, Đại đội 552 hy sinh ngày 24/7/1968. Giữa đất đá ngổn ngang, tiếng gọi trong bài thơ “Cúc ơi!” của Yến Thanh như còn vọng mãi: “Cúc ơi! Em ở đâu không về tập hợp?”. Đó không chỉ là tiếng gọi một đồng đội, mà là tiếng gọi của cả dân tộc đi tìm những người con còn nằm lại.

Ở Truông Bồn, rạng sáng 31/10/1968, chỉ ít giờ trước khi Mỹ tuyên bố ngừng ném bom miền Bắc, 13 trong số 14 thanh niên xung phong của “Tiểu đội thép”, Đại đội 317 đã hy sinh khi san lấp hố bom, giữ thông tuyến. Mười một cô gái và hai chàng trai, người trẻ nhất mới 17 tuổi, có người đã cầm trong tay giấy báo nhập học, đã không kịp bước qua ngưỡng cửa hòa bình. Khi ca khúc “Ru em nắm đất Truông Bồn” của Phạm Phương Thảo cất lên câu hỏi “Nắm đất này có phải là em?”, người nghe hiểu rằng có những hy sinh lớn đến mức đất đai cũng trở thành hình hài, trở thành di cốt, trở thành quê hương ôm người con vào lòng.

Trên đường 20 Quyết Thắng ở Quảng Bình, Hang Tám Cô lưu dấu bi kịch ngày 14/11/1972. Tám thanh niên xung phong bị vùi sau khi bom làm sập cửa hang. Đồng đội ở bên ngoài nghe tiếng kêu cứu yếu dần mà không thể phá nổi khối đá khổng lồ. Hang đá trở thành ngôi mộ chung và một chứng tích về sự hy sinh đến tận cùng.

Ở Hoàng Mai, Nghệ An, Hang Hỏa Tiễn còn là một vết thương chiến tranh trong núi đá. Ngày 28/4/1966, 33 chiến sĩ thanh niên xung phong Tổ 4, đơn vị C271, Đội 27 anh dũng hy sinh khi đang làm nhiệm vụ bảo đảm giao thông trong kháng chiến chống Mỹ. Sáu mươi năm sau, ký ức ấy vẫn nhắc chúng ta rằng có những con đường được mở bằng tuổi trẻ, có những chuyến tàu đi qua được vì biết bao người đã nằm lại.

Và còn Thành cổ Quảng Trị, Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc gia Trường Sơn, Nghĩa trang Đường 9, dòng Thạch Hãn, Hang Tám Cô, Gạc Ma, Vị Xuyên… Những “địa chỉ đỏ” ấy không chỉ ghi dấu chiến công. Đó là những trang sử được viết bằng xương máu, là nơi đất nước nghiêng mình trước những người đã đi vào lòng đất để Tổ quốc đứng lên. Bên dòng Thạch Hãn, mỗi nhịp chèo hôm nay như cũng chậm hơn, nhẹ hơn, bởi dưới làn nước ấy là máu xương của bao chiến sĩ tuổi đôi mươi trong những ngày Thành cổ Quảng Trị đỏ lửa: “Đò lên Thạch Hãn ơi chèo nhẹ / Đáy sông còn đó bạn tôi nằm / Có tuổi đôi mươi thành sóng nước / Vỗ yên bờ bãi mãi ngàn năm”.

Càng đi sâu vào chiến dịch, thế hệ hôm nay càng thấu hiểu sâu sắc rằng đằng sau mỗi con số thống kê là một câu chuyện đời rớm máu, một gia đình thao thức và một cuộc chờ đợi kéo dài qua nhiều thế hệ. Có những người lính ra đi khi tuổi đời còn quá trẻ, không kịp để lại một bức thư cuối cùng hay một tấm ảnh kỷ niệm. Có những người nằm lại giữa đại ngàn sâu thẳm, như liệt sĩ Nguyễn Văn Hưng tại cánh rừng Kon Plông, tỉnh Kon Tum, bị cơn sốt rét rừng ác tính quật ngã trên đường hành quân năm 1974, anh đã tự nguyện ở lại bên chiếc võng dù mắc giữa hai thân cây nhỏ để không làm ảnh hưởng đến bước tiến của đơn vị. Suốt 25 năm ròng rã, hai cây nhỏ năm xưa đã lớn thành đại thụ nâng giấc ngủ của người chiến sĩ lên lưng chừng trời xanh. Hình ảnh chiếc võng treo lơ lửng cách mặt đất 15 mét giữa rừng già đại ngàn không chỉ làm nhói lòng người còn sống, mà còn là lời nhắc nhở nghiêm khắc đối với thế hệ hôm nay: dưới mỗi tấc đất bình yên dưới chân, dưới mỗi tán lá rừng im lìm kia, đều có thể có một người lính đang nằm lại, lặng lẽ đợi chờ được gọi tên.   

Khoa học không thay thế được nghĩa tình, nhưng làm cho nghĩa tình có thêm sức mạnh

Trong công tác tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ, khoa học công nghệ không phải là điều gì xa lạ với tâm linh và đạo lý. Ngược lại, khoa học làm cho sự tri ân có thêm căn cứ, làm cho niềm hy vọng có thêm phương tiện, làm cho ký ức rời rạc của nhiều nguồn tư liệu có thể kết nối thành dữ liệu có khả năng đối sánh.

Radar xuyên đất, đo điện trở suất, ảnh vệ tinh, bản đồ số, phần mềm quản lý dữ liệu liệt sĩ, cơ sở dữ liệu gen thân nhân, công nghệ ADN thế hệ mới, trí tuệ nhân tạo trong phân tích, khai thác dữ liệu, tất cả đang góp phần chuyển công tác tìm kiếm từ kinh nghiệm đơn lẻ sang một quy trình có hệ thống hơn, chính xác hơn, sáng tỏ hơn. Đằng sau mỗi thao tác kỹ thuật ấy là một mục tiêu nhân văn: trả lại tên cho các anh.

Tuy nhiên, không được ảo tưởng rằng công nghệ có thể giải quyết mọi việc ngay lập tức. Hài cốt đã an táng nhiều năm thường bị phong hóa, chất lượng mẫu suy giảm. Hồ sơ, sơ đồ mộ, phiên hiệu đơn vị nhiều trường hợp chưa đầy đủ hoặc có sai lệch. Địa hình, địa vật chiến trường xưa đã đổi thay. Nhân chứng lịch sử ngày càng ít đi. Năng lực giám định ADN, dù đang được tăng cường, vẫn phải đối mặt với khối lượng công việc rất lớn. Bởi vậy, yêu cầu đặt ra là phải làm thận trọng, tỉ mỉ, chắc đến đâu làm đến đó; mỗi mẫu lấy ra phải được bảo vệ như một cơ hội đoàn tụ hiếm hoi.

Trong hành trình ấy, báo chí có một vai trò không thể thay thế. Báo chí phải vừa phản ánh kịp thời kết quả, vừa làm rõ tính nhân văn, tính khoa học, tính pháp lý của công tác tìm kiếm; vừa lan tỏa những câu chuyện xúc động, vừa kiểm chứng thông tin, tránh thổi phồng, tránh sai lệch số liệu, tránh biến nỗi đau thành cảm xúc dễ dãi. Báo chí phải là cầu nối giữa chính sách và nhân dân, giữa cơ quan chức năng và thân nhân liệt sĩ, giữa dữ liệu khô khan và ký ức sống động của cộng đồng.

Lời kêu gọi từ tháng Bảy

Chiến dịch 500 ngày đêm không chỉ là nhiệm vụ của các cơ quan chức năng. Đây là lời kêu gọi trách nhiệm của toàn xã hội. Gia đình nào còn giữ giấy báo tử, thư tay, nhật ký, sơ đồ chôn cất, ảnh cũ, kỷ vật, thông tin đơn vị, lời kể của đồng đội, xin đừng để những tư liệu ấy mất đi cùng năm tháng. Những địa phương triển khai lấy mẫu ADN thân nhân liệt sĩ, xin hãy phối hợp bằng tất cả trái tim mình. Người trẻ trong mỗi gia đình, mỗi dòng họ hãy giúp ông bà, cha mẹ số hóa ký ức: chụp lại giấy tờ, ghi âm lời kể, lưu giữ thông tin, kết nối với cơ quan chức năng khi cần thiết.

Đôi khi điều làm nên một cuộc đoàn tụ không phải là một hồ sơ lớn, mà chỉ là một chi tiết nhỏ: tên một con suối, một ký hiệu đơn vị, một ngày hành quân, một người cùng quê, một bức ảnh đã ố vàng, một mảnh giấy được gấp trong ví người lính. Mỗi manh mối được giữ lại là một ngọn đèn trong hành trình tìm đồng đội. Mỗi mẫu ADN được thu nhận là một cơ hội để một liệt sĩ chưa xác định danh tính được trả lại tên mình.

Thủ tướng Chính phủ đã nhấn mạnh tinh thần phải nỗ lực, quyết tâm cao nhất để tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ; đồng thời yêu cầu công việc phải được thực hiện thận trọng, bài bản, khoa học, chặt chẽ, kỹ lưỡng, bảo đảm an toàn và phù hợp với truyền thống văn hóa dân tộc. Đó không chỉ là mệnh lệnh hành chính. Đó là mệnh lệnh từ trái tim của một dân tộc luôn giữ tròn đạo lý.

Từ hòa bình của Việt Nam đến khát vọng hòa bình nhân loại

Kỷ niệm 79 năm và hướng tới 80 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ, chúng ta cúi đầu trước các thương binh đã để lại một phần thân thể nơi chiến trường; thành kính tri ân trước các liệt sĩ đã hiến dâng trọn đời mình cho Tổ quốc; trước những Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, những người vợ liệt sĩ, những gia đình chính sách đã âm thầm gánh chịu phần đau thương dài nhất của chiến tranh. Nhưng cùng với sự cúi đầu ấy, cần có thêm một lời hứa: không để sự hy sinh nào bị lãng quên, không để thân nhân liệt sĩ đơn độc trong hành trình tìm kiếm, không để người nằm xuống mãi mãi chỉ là một dòng chữ “chưa xác định danh tính”.

Từ những rãnh mộ tập thể vừa mở ra ở Công viên Lê Thị Riêng, từ những hài cốt trở về từ Lào, Campuchia, từ những mộ tập thể ở Tuyên Quang, từ các địa điểm tìm kiếm ở Đồng Nai và nhiều địa phương khác, Việt Nam muốn gửi tới nhân loại một thông điệp giản dị mà sâu xa: chiến tranh để lại những mất mát không gì bù đắp nổi. Không có chiến thắng nào có thể xóa được nước mắt của người mẹ mất con, không có tấm huân chương nào có thể thay thế một bữa cơm gia đình thiếu vắng người cha, không có bia mộ nào đủ lớn để chứa hết những năm tháng thanh xuân bị cắt ngang.

Bởi vậy, gìn giữ hòa bình không phải là khẩu hiệu xa xôi. Đó là bổn phận chung của loài người. Trong một thế giới đang phải đối diện ngày càng nhiều thảm họa phi truyền thống như: thiên tai, động đất, biến đổi khí hậu, dịch bệnh, khủng hoảng nhân đạo, an ninh lương thực, an ninh nguồn nước, an ninh không gian mạng v.v...thì các dân tộc càng cần phải thân thiện, hữu nghị, hợp tác và tôn trọng lẫn nhau. Nhân loại không thể đủ sức chữa lành trái đất nếu còn làm tổn thương nhau bằng chiến tranh, bằng xung đột vũ trang. Không thể cùng vượt qua thiên tai, dịch bệnh, biến đổi khí hậu nếu còn mọc thêm những nghĩa trang mới.

Tháng Bảy không chỉ là tháng để nhớ. Tháng Bảy là tháng để hành động,  hành động để trả lại tên cho những người đã ngã xuống. Hành động để chăm lo tốt hơn cho người có công và gia đình chính sách. Hành động để giáo dục thế hệ trẻ biết yêu hòa bình, biết trân trọng độc lập, biết nhìn về quá khứ và ngẩng đầu xây dựng tương lai. Hành động để mỗi người Việt Nam, dù ở trong nước hay xa Tổ quốc, đều góp một phần vào hành trình tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ.

Để một ngày không xa, trước những hàng bia thẳng tắp trong các nghĩa trang liệt sĩ, người ở lại không còn phải ngậm ngùi thắp hương cho những ngôi mộ chưa biết tên, mà có thể nghẹn ngào gọi đúng tên anh và để từ những nén hương tháng Bảy của Việt Nam, thế giới cùng nghe một lời nhắc nhớ: Hãy giữ lấy hòa bình, bởi sau mỗi cuộc chiến, điều ở lại lâu nhất không phải là tiếng súng, mà là những cuộc tìm kiếm người thân kéo dài qua nhiều thế hệ.

Bài liên quan
Đọc tiếp

(0) Bình luận
Nổi bật VOVLIVE
Lãnh đạo Đảng, Nhà nước, khán giả xúc động rơi lệ xem chương trình 'Sao sáng dẫn đường'
VOVLIVE - "Sao sáng dẫn đường" tái hiện những câu chuyện xúc động về sự hy sinh vì Tổ quốc, tri ân các Anh hùng liệt sĩ và tôn vinh những người bền bỉ tìm lại tên tuổi cho đồng đội.
Mới nhất