
Khi thi cử dẫn dắt việc học, nguy cơ học lệch ra sao?
PV: Bộ GD&ĐT đang lấy ý kiến đề xuất thi tuyển vào lớp 10 chỉ với hai môn Toán và Ngữ văn. Theo thầy, cần nhìn nhận đề xuất này như thế nào?
Thầy Đinh Đức Hiền: Giảm áp lực thi cử là mục tiêu chính đáng. Nhưng đằng sau một thay đổi tưởng như đơn giản là câu chuyện lớn hơn: kỳ thi sẽ khiến học sinh học như thế nào?
Áp lực tuyển sinh lớp 10 không nằm chủ yếu ở số môn thi mà ở mức độ cạnh tranh. Khi số học sinh muốn vào những trường có sức hút lớn vẫn vượt quá số chỗ học, giảm một môn thi không làm thay đổi bản chất cuộc cạnh tranh. Thậm chí, khi chỉ còn Toán và Ngữ văn, áp lực có thể tập trung mạnh hơn vào hai môn này. Học thêm chưa chắc giảm mà có thể chỉ chuyển hướng.
Vì vậy, điều đáng bàn không chỉ là giảm bao nhiêu môn, mà là giảm được bao nhiêu áp lực thực chất cho học sinh.

PV: Nếu chỉ thi Toán và Ngữ văn, liệu các môn học còn lại có nguy cơ bị xem nhẹ trong những năm cuối THCS?
Thầy Đinh Đức Hiền: Về nguyên tắc, phải là “học gì, thi nấy”. Nhưng trong thực tế giáo dục Việt Nam, “thi gì, học nấy” vẫn là một quy luật rất mạnh. Môn nào quyết định cơ hội vào lớp 10 thì học sinh dành nhiều thời gian hơn, phụ huynh đầu tư nhiều hơn, nhà trường quan tâm nhiều hơn.
Vì vậy, nếu trong nhiều năm chỉ thi Toán và Ngữ văn, cần tính đến nguy cơ các môn Khoa học tự nhiên, Lịch sử, Địa lý, Ngoại ngữ, Tin học, Công nghệ dần bị xem nhẹ trong những năm cuối THCS. Không thể khẳng định điều đó chắc chắn xảy ra, nhưng đây là nguy cơ chính sách cần tính đến. Đôi khi không cần một văn bản yêu cầu học lệch, chính cách đánh giá đã đủ tạo ra động lực học lệch.
Chương trình giáo dục phổ thông 2018 hướng tới việc học sinh bước vào THPT có khả năng lựa chọn môn học phù hợp với năng lực, sở trường và định hướng nghề nghiệp. Nhưng muốn lựa chọn đúng, trước hết các em phải được học đủ rộng để khám phá chính mình. Không thể kỳ vọng một học sinh yêu thích khoa học nếu các em ngày càng ít đầu tư và trải nghiệm trong những lĩnh vực khoa học.
PV: Nguy cơ học lệch có thể ảnh hưởng thế nào đến mục tiêu phát triển năng lực học sinh, nhất là khi khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo ngày càng được coi trọng?
Thầy Đinh Đức Hiền: Toán rất quan trọng nhưng STEM không chỉ có Toán. Nguồn nhân lực cho trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, công nghệ sinh học hay tự động hóa không bắt đầu từ giảng đường đại học. Nó bắt đầu từ sự tò mò khoa học và những trải nghiệm học tập ở phổ thông.
Tương tự, khi đang thực hiện mục tiêu đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học, việc tiếng Anh không còn tham gia kỳ thi chuyển cấp cũng cần đi kèm cơ chế đủ mạnh để duy trì động lực và chất lượng học ngoại ngữ.
Không nhất thiết phải thi tiếng Anh mới học tốt tiếng Anh. Nhưng cũng không thể bỏ qua sức mạnh định hướng của thi cử trong điều kiện thực tế hiện nay. Vì thế, khi thay đổi môn thi, cần tính đến tác động đối với việc học các môn khác, thay vì chỉ nhìn vào lợi ích trước mắt của việc giảm số môn thi.
PV: Có ý kiến cho rằng nên bổ sung bài thi thứ ba theo hướng đánh giá năng lực tổng hợp để hạn chế học lệch. Đây có phải giải pháp phù hợp?
Thầy Đinh Đức Hiền: Có thể nghiên cứu một bài đánh giá năng lực nền tảng, kiểm tra khả năng đọc hiểu, suy luận và vận dụng kiến thức khoa học, xã hội, ngoại ngữ, công nghệ ở mức cơ bản. Nhưng đây không phải phương án không có rủi ro.
Nếu bài thi tổng hợp trở thành việc gom kiến thức của 6, 7 môn, phụ huynh hoàn toàn có thể đổ xô cho con học thêm cả từng đấy môn. Khi ấy, chống học lệch lại biến thành học thêm diện rộng, tạo ra một cuộc đua luyện thi mới.
Vì vậy, bài đánh giá này chỉ đáng triển khai khi được thử nghiệm và chứng minh có giá trị thực chất, không kích thích thêm áp lực ôn luyện. Nếu chưa đủ điều kiện, thi hai môn vẫn có thể là lựa chọn phù hợp, nhưng phải đi kèm những công cụ bảo đảm chất lượng học tập toàn diện ở THCS.
Giảm môn thi, áp lực vẫn còn nếu thiếu chỗ học
PV: Như vậy, ngay cả khi giảm số môn thi, áp lực tuyển sinh vẫn có thể còn nguyên nếu số chỗ học ở những trường được nhiều phụ huynh lựa chọn không thay đổi?
Thầy Đinh Đức Hiền: Hãy thử hình dung 10.000 học sinh cùng muốn vào một nhóm trường chỉ có 5.000 chỗ học. Thi 3 môn hay 2 môn, xét học bạ hay kết hợp nhiều tiêu chí, thì vẫn chỉ có 5.000 học sinh đạt được nguyện vọng ấy. Vì vậy, giảm môn thi có thể giảm thời gian ôn tập, chi phí tổ chức và áp lực của một buổi thi. Đó là lợi ích có thật. Nhưng không thể vì thế mà mặc nhiên kết luận áp lực tuyển sinh đã giảm tương ứng.
Khi cơ hội học tập được mong muốn vẫn khan hiếm, xã hội sẽ tiếp tục cạnh tranh, chỉ khác ở cách thức cạnh tranh. Nếu chỉ thi Toán và Ngữ văn, cuộc đua có thể tập trung vào hai môn này. Nếu xét học bạ, áp lực có thể chuyển sang điểm số trong suốt những năm THCS. Áp lực không tự biến mất chỉ vì chúng ta thay đổi công cụ tuyển chọn.

PV: Vậy đâu là những vấn đề cần giải quyết song song với đổi mới thi cử để giảm áp lực tuyển sinh một cách bền vững?
Thầy Đinh Đức Hiền: Cần nhìn sâu hơn vào tâm lý phụ huynh và xã hội. Nhiều gia đình không chỉ lo con trượt lớp 10, mà còn lo con không vào được trường tốt, không có môi trường học tập như kỳ vọng, ảnh hưởng đến cơ hội đại học và tương lai. Đó không đơn thuần là chuyện phụ huynh quá kỳ vọng mà nó còn phản ánh sự khác biệt có thật hoặc được cảm nhận về chất lượng, uy tín và cơ hội học tập giữa các trường. Nếu phụ huynh chỉ tin tưởng vào một số ít trường, áp lực vẫn rất lớn ngay cả khi địa phương có nhiều cơ sở giáo dục.
Cùng với đổi mới thi cử, địa phương cần dự báo chính xác quy mô học sinh, phát triển mạng lưới trường lớp, nâng chất lượng các trường THPT ngoài nhóm được săn đón và công khai cơ hội học tập sau THCS.
Chúng ta cũng cần nhìn nhận lại việc phân luồng. Nếu giáo dục nghề nghiệp chưa đủ sức hấp dẫn, chưa chứng minh được chất lượng, cơ hội việc làm và khả năng học tiếp, thì khó thuyết phục phụ huynh tự nguyện lựa chọn. Phân luồng thực chất phải dựa trên năng lực và nguyện vọng, không phải là cách gọi khác của việc không đỗ vào trường THPT mong muốn.
Một chính sách thi cử tốt không chỉ được đánh giá bằng việc kỳ thi diễn ra nhẹ nhàng trong hai ngày, mà còn bằng cách nó tác động đến việc học của hàng triệu học sinh trong nhiều năm trước đó. Giảm áp lực là cần thiết, nhưng không được đồng nghĩa với thu hẹp cơ hội khám phá năng lực của học sinh.
Thi cử suy cho cùng chỉ là công cụ. Điều cần bảo vệ không phải là 2 môn hay 3 môn mà là mục tiêu giáo dục mà kỳ thi ấy phục vụ.
PV: Xin cảm ơn thầy!









