Hôm nay (26/10), tại Trường ĐH Văn hóa Hà Nội diễn ra hội thảo quốc tế “Hợp tác giữa Nhà nước - Nhà trường - Doanh nghiệp trong phát triển nguồn nhân lực văn hóa đáp ứng yêu cầu của kỷ nguyên mới”.
Phát biểu tại hội thảo, PGS.TS. Đinh Công Tuấn, Hiệu trưởng Trường Đại học Văn hóa Hà Nội cho rằng, trong tiến trình phát triển đất nước ở kỷ nguyên mới, văn hóa ngày càng khẳng định vai trò là nền tảng tinh thần của xã hội, đồng thời là nguồn lực nội sinh và động lực của phát triển bền vững. Sự phát triển của các ngành công nghiệp văn hóa, kinh tế sáng tạo, công nghệ số và quá trình hội nhập quốc tế cũng đặt ra yêu cầu cấp thiết phải đổi mới tư duy phát triển nguồn nhân lực văn hóa, từ đào tạo theo khả năng cung ứng của cơ sở giáo dục sang phát triển năng lực gắn với nhu cầu xã hội, đặc thù nghề nghiệp và giá trị văn hóa.
Bên cạnh tri thức chuyên môn, người lao động cần năng lực số, kỹ năng sáng tạo, tư duy liên ngành, ngoại ngữ, khả năng thích ứng với môi trường nghề nghiệp và ý thức bảo vệ các giá trị văn hóa. Đặc biệt, việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo và các công nghệ mới đòi hỏi năng lực sử dụng công nghệ có trách nhiệm, tôn trọng bản quyền, tính xác thực của di sản và lợi ích của cộng đồng.

Theo PGS.TS Đinh Công Tuấn, những yêu cầu ấy vượt ra ngoài khả năng đáp ứng riêng lẻ của bất kỳ chủ thể nào. Vì vậy, liên kết ba bên giữa Nhà nước - Nhà trường - Doanh nghiệp không nên dừng ở các thỏa thuận mang tính hình thức hoặc những hoạt động thực tập ngắn hạn. Vấn đề cốt lõi là hình thành quan hệ hợp tác thực chất, trong đó, các bên cùng tham gia xác định nhu cầu, thiết kế chương trình, tổ chức đào tạo, nghiên cứu ứng dụng, sử dụng nhân lực và đánh giá tác động xã hội.
Đồng quan điểm, tham luận tại hội thảo, GS.TS Đinh Xuân Dũng - Nguyên Phó Chủ tịch chuyên trách Hội đồng Lý luận, Phê bình Văn học, Nghệ thuật Trung ương nhận định, sự gắn kết giữa "3 nhà" này là vô cùng quan trọng, vượt qua tư duy cũ trước đây là “việc ai người ấy làm”, thiếu một cơ chế gắn kết, phối hợp.
Nhìn nhận về thực trạng hiện nay, GS.TS Đinh Xuân Dũng lo ngại tình trạng liên kết lỏng lẻo tại nhiều cơ sở đào tạo: "Sự gắn kết giữa ba chủ thể còn mang tính hình thức, phụ thuộc phần lớn vào mối quan hệ cá nhân giữa lãnh đạo nhà trường với lãnh đạo doanh nghiệp, cơ quan quản lý, chưa trở thành một cơ chế ổn định, có tính chế định. Khi thay đổi nhân sự lãnh đạo, sự gắn kết ấy rất dễ đứt gãy, gián đoạn, kéo theo hệ luỵ trực tiếp đến chất lượng đào tạo và cơ hội việc làm của sinh viên".
Trong khi đó, theo GS.TS Đinh Xuân Dũng, kinh nghiệm ở nhiều nước phát triển cho thấy, việc luật hóa trách nhiệm của Nhà nước, nhà trường và doanh nghiệp trong đào tạo nguồn nhân lực đã tạo ra một hành lang pháp lý ổn định, buộc cả ba chủ thể thực hiện nghĩa vụ của mình thường xuyên, có trách nhiệm giải trình rõ ràng. GS.TS Đinh Xuân Dũng cho rằng, việc xây dựng mô hình gắn kết ba chủ thể này không nên chỉ dừng lại ở các văn bản mang tính khuyến khích, vận động mà cần tiến tới những quy định có tính bắt buộc, đi kèm cơ chế giám sát, đánh giá độc lập, để sự gắn kết ấy thực sự trở thành động lực bền vững, lâu dài cho việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
"Làm được điều đó, chúng ta sẽ bỏ lại phía sau các cách làm tuỳ hứng, nhất thời, tùy thuộc vào “sáng kiến” hay “gu” của người lãnh đạo. Để tạo được mô hình trên, cả ba chủ thể trong quan hệ gắn kết này đều cần tự thay đổi, tự đổi mới", GS.TS Đinh Xuân Dũng chỉ rõ.

Để mô hình liên kết ba bên thực sự hiệu quả, GS.TS Đinh Xuân Dũng chỉ rõ, mỗi chủ thể đều cần tự đổi mới vị trí và vai trò của mình. Trong đó, cơ quan quản lý nhà nước trước hết cần chuyển mạnh từ tư duy quản lý sang tư duy kiến tạo và năng lực biết kết hợp nhuần nhuyễn, linh hoạt, có nguyên tắc. Không nên dừng lại ở các văn bản quản lý nhà trường theo tư duy cũ mà rất cần những định hướng cụ thể, hướng dẫn phù hợp để nhà trường tiếp nhận và triển khai thực hiện nhiệm vụ đào tạo và liên kết đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng kết quả đào tạo.
Doanh nghiệp cũng cần tiếp nhận việc thực tập như một trách nhiệm xã hội, không phải là giúp đỡ tùy ý và tham gia đánh giá kết quả thực tập của sinh viên như một thành tố của đào tạo.
“Ở ta, có lẽ nhiệm vụ đó còn rơi vào hình thức, vì thế, chất lượng đào tạo bị hạn chế, vì thiếu năng lực thực hành. Tôi được nghe nhiều cán bộ lãnh đạo các đơn vị “kêu ca” về việc phải hướng dẫn lại từ đầu khi tiếp nhận sinh viên, trong khi đó, các em này khi học đã đạt loại khá hay giỏi", GS.TS Đinh Xuân Dũng cũng chia sẻ thêm rằng: "Việc sinh viên đi thực tập tại các doanh nghiệp hiện nay vẫn còn tình trạng chỉ dừng lại ở thủ tục, hình thức theo kiểu xin giấy chứng nhận hoàn thành thời gian thực tập. Để đảm bảo chất lượng thực tập - làm việc, cần có ký kết liên kết đào tạo và các quy định chặt chẽ, phù hợp, xác định trách nhiệm, quyền lợi bình đẳng giữa hai chủ thể".
Theo GS.TS Đinh Xuân Dũng, doanh nghiệp không chỉ là nơi thực tập, mà cao hơn, họ còn là người “phản biện” khách quan, thẳng thắn nội dung và kết quả đào tạo của nhà trường, giúp nhà trường cân nhắc, bổ sung, điều chỉnh chương trình, nội dung đào tạo.
Các đơn vị, doanh nghiệp cũng hoàn toàn có thể đề xuất nhu cầu cần có về nhân lực văn hóa cho lĩnh vực của mình, có thể thực hiện phương thức đào tạo theo địa chỉ và doanh nghiệp cũng có khả năng gợi mở cho nhà trường về chương trình, nội dung đào tạo qua sự trải nghiệm, hoạt động thực tiễn gắn với nhu cầu xã hội và kinh tế thị trường.
Về phía nhà trường, GS.TS Đinh Xuân Dũng cũng lưu ý xu hướng chạy theo thị trường: “Chúng ta thường nói, nhà trường chỉ giảng cái gì mà xã hội cần thay thế cho cái gì mà nhà trường có. Tuy nhiên, một trường đại học lớn luôn có một tài sản tri thức lớn làm nên giá trị khoa học, danh tiếng và “thương hiệu” của mình. Tài sản tinh thần đó lại luôn được bổ sung và làm mới để có cái mà xã hội cần. Có nghĩa là, nhà trường phải dạy cái mà nhà trường đã tích lũy được từ nhiều năm và cả cái đã được làm mới, bổ sung mà xã hội cần. Không thể thiếu hoặc loại bỏ một trong hai cái đó, như một người buôn bán “bán cái xã hội cần mà không bán cái mình có”.
Bên cạnh đó, tạo được mối liên kết, gắn bó thực sự giữa nhà trường với các đối tác doanh nghiệp là cơ sở để nâng cao chất lượng đào tạo, tránh tình trạng bài giảng rất rơi vào tình trạng “chay” và “cũ”. Đồng thời, khi nắm bắt tốt nhu cầu từ cả Nhà nước và doanh nghiệp, các cơ sở đào tạo sẽ chủ động mở được các kênh đào tạo đáp ứng đúng, trúng nhu cầu của xã hội, biến sự hợp tác ba bên thành động lực bền vững nâng tầm nguồn nhân lực văn hóa Việt Nam.









