
Sáng 29/7, Bộ Chính trị, Ban Bí thư tổ chức Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV. Đồng chí Nguyễn Thanh Nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương trình bày chuyên đề Nghị quyết về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh.

Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị nhấn mạnh, nước ta là quốc gia biển có vị trí địa chiến lược đặc biệt quan trọng, có vùng biển rộng hơn 1 triệu km2, gấp khoảng ba lần diện tích đất liền, là chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc, là không gian sinh tồn, không gian phát triển chiến lược và là bộ phận cấu thành quan trọng của năng lực cạnh tranh và sức mạnh tổng hợp quốc gia.
Trước bối cảnh và yêu cầu mới, việc ban hành Nghị quyết về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh là yêu cầu cấp thiết nhằm thể chế hóa chủ trương của Đảng, đáp ứng yêu cầu mở rộng không gian phát triển quốc gia, đổi mới quản trị biển hiện đại và phát huy vai trò chiến lược của biển trong phát triển kinh tế, bảo đảm quốc phòng - an ninh, đối ngoại và hội nhập quốc tế.
Những tư duy mới về quốc gia biển mạnh
Theo đó, Nghị quyết về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh có một số điểm mới như sau:
Thứ nhất, Nghị quyết chuyển mạnh từ tư duy phát triển kinh tế biển sang xây dựng và phát triển quốc gia biển mạnh; từ khai thác tài nguyên sang quản trị, khai thác hiệu quả không gian biển quốc gia dựa trên nền tảng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; định hướng phát triển quốc gia có năng lực quản trị biển hiện đại, kinh tế biển phát triển, khoa học, công nghệ biển tiên tiến, có năng lực bảo vệ chủ quyền biển, đảo và vị thế quốc tế về biển; phát triển toàn diện sức mạnh quốc gia trên biển, đưa biển thực sự trở thành một trong những trụ cột quan trọng của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới.
Thứ hai, xác định biển là không gian phát triển chiến lược và là nơi hình thành những cực tăng trưởng, các ngành kinh tế và động lực phát triển mới. Tập trung nghiên cứu phát triển các ngành, lĩnh vực có lợi thế cạnh tranh, có khả năng tạo đột phá, tạo giá trị gia tăng cao.
Thứ ba, Nghị quyết xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực chủ yếu cho phát triển biển.
Thứ tư, nội dung Nghị quyết kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế biển với củng cố quốc phòng, an ninh trên biển, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; phát triển bảo đảm yêu cầu bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển; nâng cao năng lực phòng thủ và bảo vệ lợi ích quốc gia trên biển.
Thứ năm, Nghị quyết cũng đề xuất mô hình quản trị biển hiện đại, thống nhất, liên thông, dựa trên dữ liệu và quy hoạch không gian biển quốc gia; bảo đảm quản lý tổng hợp, quản trị đồng bộ mặt biển, đáy biển, lòng đất dưới biển, các đảo, vùng ven biển và vùng trời trên biển; đồng thời bảo đảm sự kết nối chặt chẽ giữa đất liền với biển đảo, giữa phát triển kinh tế với quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường.
Thứ sáu, các chương trình hành động cần cụ thể, đảm bảo 5 rõ, có cơ chế kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả thực hiện.
Nội dung Nghị quyết bao gồm 5 nhóm quan điểm chỉ đạo; các nhóm mục tiêu đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; 9 nhóm nhiệm vụ, giải pháp lớn và phần tổ chức thực hiện.

5 nhóm quan điểm chỉ đạo
Quan điểm thứ nhất, Nghị quyết xác định rõ vai trò của biển. Biển là không gian phát triển chiến lược, là nền tảng quan trọng của sức mạnh tổng hợp quốc gia.
Xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh là chiến lược phát triển đất nước lâu dài, gắn chặt với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Việt Nam phải có nền quản trị biển hiện đại; kinh tế biển phát triển; khoa học, công nghệ biển tiên tiến; môi trường bền vững; văn hóa giàu bản sắc; cộng đồng cư dân giàu mạnh; quốc phòng, an ninh được giữ vững và hội nhập quốc tế thực chất, hiệu quả, vị thế, uy tín quốc tế ngày càng cao.
Quan điểm thứ hai: Đổi mới mạnh mẽ tư duy, hoàn thiện thể chế phát triển quốc gia biển mạnh và quản trị biển hiện đại. Chuyển mạnh từ khai thác biển sang quản trị biển hiện đại; từ phát triển kinh tế biển sang phát triển quốc gia biển mạnh; từ quản lý theo ngành sang quản trị tổng hợp, thống nhất không gian biển quốc gia.
Hoàn thiện thể chế phát triển quốc gia biển mạnh là đột phá chiến lược; phát huy mạnh mẽ, hiệu quả mọi nguồn lực, khơi thông mọi tiềm năng, lợi thế của biển, hải đảo; hình thành các cực tăng trưởng, trung tâm kinh tế, hành lang kinh tế biển, gắn kết đất liền - biển - hải đảo và các không gian phát triển mới.
Quan điểm thứ ba: Xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nguồn nhân lực chất lượng cao là động lực chính xây dựng, phát triển quốc gia biển mạnh, trọng tâm là đẩy mạnh điều tra cơ bản, nghiên cứu khoa học biển; phát triển và làm chủ công nghệ, dữ liệu và tri thức biển, đại dương. Phát triển mạnh các ngành, lĩnh vực biển hiện đại.
Quan điểm thứ tư: Nhận diện đầy đủ các yếu tố bảo đảm tính "bền vững" trong xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh.
Phát triển quốc gia biển mạnh trên cơ sở khai thác, sử dụng hiệu quả, bền vững tài nguyên biển gắn với bảo vệ môi trường, bảo tồn hệ sinh thái, đa dạng sinh học biển theo hướng xanh, thông minh, phát triển trong giới hạn sinh thái và khả năng chịu tải của môi trường biển, đại dương; kiên quyết không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế.
Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, biến đổi đại dương; nâng cao khả năng chống chịu, năng lực phòng, chống thiên tai, giảm thiểu rủi ro.
Quan điểm thứ năm: Phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc và xác định trách nhiệm, quyền lợi và nghĩa vụ của các nhóm chủ thể trong xây dựng và phát triển quốc gia biển mạnh.
Xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh là nhiệm vụ chiến lược của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị; là quyền lợi, trách nhiệm và nghĩa vụ của mọi tổ chức, doanh nghiệp và người dân; bảo đảm đặt dưới sự lãnh đạo toàn diện của Đảng, sự quản lý thống nhất của Nhà nước và sự tham gia tích cực, có trách nhiệm của các chủ thể trong xã hội.
Phát huy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường, khát vọng vươn ra biển lớn; phát triển đất nước theo hướng biển, gắn với bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo.
Mục tiêu đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045
Nghị quyết đề ra mục tiêu tổng quát đến năm 2030; tầm nhìn đến năm 2045, trong đó đề ra 6 nhóm mục tiêu cụ thể với 32 mục tiêu cụ thể cần đạt được trong giai đoạn 2026 - 2030 tạo tiền đề xây dựng và phát triển quốc gia biển mạnh, bao gồm các nhóm về: Kinh tế; Phát triển không gian biển, hạ tầng biển; Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; Quản trị không gian biển, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững; Văn hoá, xã hội; Bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại (Đề nghị các đồng chí nghiên cứu chi tiết trong Nghị quyết và Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết).
Nghị quyết đề ra 9 nhóm nhiệm vụ, giải pháp lớn, bao gồm: Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, đổi mới tư duy, nâng cao nhận thức về phát triển quốc gia biển mạnh, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị biển quốc gia.
Hoàn thiện thể chế, đổi mới công tác quy hoạch không gian biển quốc gia, tạo đột phá phát triển quốc gia biển mạnh. Huy động, phát huy và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, phát triển mạnh doanh nghiệp biển, nhất là các tập đoàn, tổng công ty quy mô lớn.
Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nguồn nhân lực chất lượng cao. Đột phá phát triển các ngành kinh tế biển hiện đại, xanh, thông minh và các ngành, lĩnh vực biển mới.
Phát triển đồng bộ hạ tầng biển, mở rộng không gian phát triển quốc gia, hình thành các trung tâm kinh tế biển mạnh của quốc gia và khu vực.
Bảo vệ môi trường, bảo tồn hệ sinh thái biển; chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu; nâng cao khả năng chống chịu của các địa phương ven biển, hải đảo.
Xây dựng văn hóa biển, nâng cao đời sống người dân, phát huy sức mạnh cộng đồng cư dân biển trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Bảo đảm quốc phòng, an ninh, an toàn trên biển, đảo; tăng cường hội nhập và hợp tác quốc tế, nâng cao vị thế quốc gia.








