Phóng viên VOV thường trú tại Liên bang Nga đã phỏng vấn ông Alexander Kravtsov, Tổng Giám đốc Viện Nghiên cứu Điện tử Phân tử MERI (Liên bang Nga) về tiềm năng của Việt Nam trong lĩnh vực bán dẫn cũng như triển vọng hợp tác giữa Việt Nam và Liên bang Nga trong lĩnh vực này.

PV: Thưa ông, ngày 27/6, UBND TP Hà Nội cùng các đối tác Việt Nam và Viện Nghiên cứu Điện tử Phân tử MERI đã ký Thỏa thuận hợp tác chiến lược nhằm thúc đẩy nghiên cứu, đào tạo, chuyển giao công nghệ và phát triển hệ sinh thái bán dẫn tại Việt Nam. Ông đánh giá như thế nào về ý nghĩa của thỏa thuận này đối với hợp tác khoa học – công nghệ giữa Việt Nam và Liên bang Nga trong giai đoạn hiện nay?
Ông Alexander Kravtsov: Chúng tôi luôn theo dõi sát sao sự phát triển của lĩnh vực vi điện tử tại Việt Nam, một trong những quốc gia quan trọng xét trên phương diện hợp tác, quan hệ đối tác chiến lược, cũng như những sáng kiến chiến lược đang được triển khai tại đây. Chúng tôi biết rằng từ năm 2024, ngành công nghiệp bán dẫn đã được xác định là lĩnh vực chiến lược đối với đất nước nói chung và đối với sự phát triển của Hà Nội nói riêng.
Những lợi thế của Việt Nam bao gồm tiềm năng tăng trưởng của ngành. Đồng thời, có thể thấy rằng tại Việt Nam, cơ sở hạ tầng phù hợp đang được phát triển rất tích cực, tạo điều kiện thuận lợi cho ngành nói chung, cho việc điều tiết ngành, cùng với sự hỗ trợ tích cực của Nhà nước, giúp ngành có thể phát triển. Bên cạnh đó là sự sẵn sàng phát triển khoa học, hướng tới các mục tiêu và nhiệm vụ về bảo đảm độc lập công nghệ của Việt Nam, đặc biệt trong những lĩnh vực quan trọng đối với đời sống xã hội.
Biên bản ghi nhớ nói chung đã xác định khuôn khổ chung, trong đó tất cả các bên tham gia sẽ song song phát triển phần việc của mình trong dự án. Về phía MERI, chúng tôi đang nghiên cứu các vấn đề về hợp tác công nghệ, đào tạo nhân lực, tiến hành các nghiên cứu chung. UBND thành phố Hà Nội sẽ đảm bảo hỗ trợ hành chính và thúc đẩy việc hình thành hệ sinh thái.
Đại học Bách khoa Hà Nội trong trường hợp này đóng vai trò là nền tảng giáo dục, đào tạo nhân lực, tạo khả năng tiến hành nghiên cứu khoa học, thử nghiệm và khai thác các nguồn lực phòng thí nghiệm. G-Group sẽ hỗ trợ thu hút các nguồn lực của hệ sinh thái vi điện tử Việt Nam, còn NST phụ trách triển khai các giải pháp liên quan đến bảo đảm an toàn điện tử.

PV:Theo ông, Việt Nam đang có những lợi thế nào để phát triển ngành công nghiệp bán dẫn?
Ông Alexander Kravtsov: Như tôi đã đề cập, trước hết đó là sự hỗ trợ của Nhà nước và tiềm năng tăng trưởng. Nhìn chung, theo quan điểm của tôi, tiềm năng tăng trưởng trong khu vực là khá cao. Việt Nam có một thị trường nội địa tốt và các quốc gia xung quanh có thể trở thành những khách hàng tiềm năng. Về bản chất, đây không chỉ là vấn đề thương mại, mà là vấn đề kinh doanh dựa trên công nghệ, đổi mới sáng tạo và các nghiên cứu khoa học. Và ở đây, sự hợp tác giữa các công ty với nhau đóng vai trò quan trọng.
Trong chuyến thăm Việt Nam, tôi đã trao đổi với các đồng nghiệp Việt Nam. Qua quá trình phát triển trước đây cũng như qua các cuộc trao đổi, có thể thấy các đồng nghiệp Việt Nam không tư duy theo hướng những giải pháp tức thời mà hướng tới các sáng kiến chiến lược nhằm xây dựng hệ sinh thái. Việt Nam đang hướng tới độc lập công nghệ một cách rõ ràng. Điều này đã được nhấn mạnh và rất quan trọng đối với đất nước, đặc biệt trong những lĩnh vực then chốt. Mong muốn có cơ sở hạ tầng do chính mình kiểm soát, nền tảng linh kiện và phát triển năng lực nhân sự trong nước là điều rất quan trọng.
Không có một nền tảng kỹ thuật mạnh, ngay cả khi có những cơ sở sản xuất hiện đại nhất, các bạn cũng không thể kiểm soát được kết quả cuối cùng, không phải lúc nào cũng có khả năng và hiểu biết về những gì đang diễn ra trong quá trình sản xuất. Các đối tác Việt Nam của chúng tôi cũng nhấn mạnh ưu tiên phát triển theo hướng này.
Nhìn chung, quá trình số hóa tại Việt Nam đang diễn ra rất tích cực và tốc độ ứng dụng công nghệ số tại Việt Nam thuộc nhóm cao nhất trong khu vực. Các vấn đề về bảo vệ hạ tầng thông tin trọng yếu, an ninh mạng đang trở thành những vấn đề cấp thiết, ưu tiên đối với Việt Nam và các bạn đang tích cực phát triển lĩnh vực này.
PV:Một trong những nội dung trọng tâm của Thỏa thuận hợp tác là chuyển giao công nghệ vi điện tử, nano điện tử và phát triển các giải pháp vi điện tử an toàn. Viện Nghiên cứu Điện tử Phân tử MERI của Liên bang Nga dự kiến sẽ triển khai những hoạt động nào để hiện thực hóa mục tiêu này?
Ông Alexander Kravtsov: Về phía MERI, chúng tôi sở hữu những năng lực, công nghệ và chuyên môn cần thiết, trước hết là trong lĩnh vực chế tạo các vi mạch bảo mật, các sản phẩm đáp ứng những yêu cầu an toàn cao nhất. Chính chúng tôi đã phát triển các chip cho hộ chiếu sinh trắc học của Nga, thẻ ngân hàng “Mir”. Đối với những sản phẩm này, điều quan trọng không chỉ là độ tin cậy và bảo vệ dữ liệu, mà còn là sự bảo đảm rằng quyền truy cập vào những dữ liệu này chỉ thuộc về quốc gia.
Như tôi đã đề cập, nhiều nội dung mà chúng tôi có thể chuyển giao liên quan đến lĩnh vực hạ tầng thông tin trọng yếu. Vấn đề ở đây không đơn giản chỉ là bán các công nghệ có sẵn hoặc đưa chúng sang Việt Nam để triển khai dưới sự kiểm soát của chúng tôi, mà là cùng nhau xây dựng toàn bộ chuỗi: từ chuyển giao tri thức, nghiên cứu phát triển chung đến hình thành các cơ sở sản xuất nội địa và đào tạo nhân lực tại Việt Nam.
Việc chuyển giao năng lực chuyên môn và đào tạo nhân lực là điều tất nhiên cần thiết. Trong nhiều dự án như vậy, rào cản không nằm ở việc thiếu công nghệ mà chính là thiếu những chuyên gia hiểu biết và có khả năng làm việc với công nghệ đó. Vì vậy, trong kế hoạch cũng có việc xây dựng các chương trình đào tạo chung, trao đổi tri thức và những hoạt động tương tự. Về phía mình, chúng tôi đã có kinh nghiệm khá tốt trong việc triển khai những sáng kiến như vậy.

PV:Ông kỳ vọng những kết quả cụ thể nào sẽ đạt được trong 3–5 năm tới từ chương trình hợp tác giữa Viện Nghiên cứu Điện tử Phân tử MERI và các đối tác Việt Nam?
Ông Alexander Kravtsov: Như tôi đã nói, vi điện tử là lĩnh vực đầu tư cho dài hạn, vì vậy có thể lấy mốc 5 năm. Đây là khoảng thời gian hoàn toàn thực tế để trong giai đoạn này, tại Việt Nam có thể xuất hiện những sản phẩm cụ thể được chúng tôi cùng các đối tác tạo ra trong quá trình hợp tác.
Những sản phẩm đó sẽ nằm dưới sự kiểm soát của Chính phủ Việt Nam và tôi hy vọng rằng mỗi công dân Việt Nam sẽ có thể sử dụng chúng.
PV: Xin trân trọng cảm ơn ông.








