
Từ tư duy huy động nguồn lực đến tư duy giải phóng nguồn lực
Nếu như trong giai đoạn đầu của công cuộc đổi mới, nhiệm vụ trung tâm của phát triển là huy động tối đa các nguồn lực phục vụ công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, thì bước vào giai đoạn phát triển mới, vấn đề đặt ra làm thế nào để khơi thông, kết nối và phát huy hiệu quả những nguồn lực đang tồn tại trong nền kinh tế. Đây chính là cơ sở thực tiễn và lý luận của sự chuyển dịch từ tư duy “huy động nguồn lực” sang tư duy “giải phóng nguồn lực” được thể hiện rõ nét trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng.
Tham luận tại hội thảo Điểm mới trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng, PGS.TS. Vũ Trọng Lâm, Giám đốc, Tổng Biên tập Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự Thật cho rằng, sự chuyển dịch trong tư duy này phản ánh nhận thức mới về bản chất của tăng trưởng. Trong thế kỷ XXI, năng lực cạnh tranh của một quốc gia không còn được quyết định chủ yếu bởi quy mô vốn đầu tư, tài nguyên thiên nhiên hay lợi thế lao động giá rẻ, mà ngày càng phụ thuộc vào chất lượng thể chế, trình độ khoa học, công nghệ, năng lực đổi mới sáng tạo và khả năng phát huy các động lực nội sinh của xã hội.
Theo cách tiếp cận đó, phát triển không chỉ là quá trình tích lũy thêm các yếu tố đầu vào, mà trước hết là quá trình giải phóng những tiềm năng đang bị kìm hãm bởi các rào cản thể chế, các cơ chế phân bổ nguồn lực thiếu hiệu quả và những giới hạn của mô hình tăng trưởng truyền thống. Nói cách khác, giải phóng nguồn lực thực chất là giải phóng sức sản xuất.
Đây là một trong những nội dung xuyên suốt của tư duy đổi mới từ Đại hội VI của Đảng đến nay, nhưng trong Văn kiện Đại hội XIV, tư tưởng này được nâng lên một tầm cao mới khi gắn trực tiếp với yêu cầu xác lập mô hình tăng trưởng mới và kiến tạo các động lực phát triển mới.
Văn kiện xác định rõ: “Tháo gỡ điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực, tạo dư địa cho huy động các nguồn lực để thực hiện các chủ trương, chính sách phát triển đất nước”.
Điểm mới quan trọng ở đây là nguồn lực không còn được nhìn nhận đơn thuần như những yếu tố đầu vào cần được tập trung và phân bổ, mà được xem là những tiềm năng đang tồn tại trong xã hội cần được giải phóng khỏi các rào cản thể chế, cơ chế và môi trường phát triển. Điều đó phản ánh sự thay đổi căn bản trong cách tiếp cận của Đảng đối với quá trình phát triển kinh tế.
"Nếu tư duy huy động nguồn lực đặt trọng tâm vào việc tìm kiếm, tập hợp và phân bổ các nguồn lực cho phát triển, thì tư duy giải phóng nguồn lực lại hướng tới việc kiến tạo môi trường để các nguồn lực tự vận động, phát triển và được phân bổ theo tín hiệu của thị trường trong khuôn khổ pháp luật. Đây là sự chuyển dịch từ tư duy quản lý sang tư duy kiến tạo phát triển; từ can thiệp trực tiếp sang tạo lập môi trường thuận lợi; từ tập trung nguồn lực sang khơi thông động lực. Sự chuyển biến này cũng phản ánh bước phát triển mới trong nhận thức của Đảng về vai trò của thể chế”, PGS.TS. Vũ Trọng Lâm phân tích.

Đồng bộ thể chế, mở đường phát triển
PGS.TS. Vũ Trọng Lâm nhận xét, nếu như trước đây thể chế chủ yếu được nhìn nhận như công cụ quản lý và điều hành nền kinh tế, thì ngày nay thể chế được xem là nguồn lực phát triển đặc biệt quan trọng. Một thể chế minh bạch, ổn định, hiện đại và thân thiện với đổi mới sáng tạo không chỉ tạo điều kiện cho các nguồn lực hiện có được sử dụng hiệu quả hơn mà còn tạo ra những nguồn lực mới cho phát triển.
Trong toàn bộ hệ thống nguồn lực, thể chế được đặt ở vị trí đặc biệt quan trọng. Thực tiễn phát triển của nhiều quốc gia cho thấy, cùng một lượng vốn, cùng một trình độ công nghệ và cùng một nguồn nhân lực, nhưng những quốc gia sở hữu thể chế hiệu quả thường đạt tốc độ tăng trưởng và chất lượng phát triển vượt trội. Điều đó cho thấy, thể chế không chỉ là công cụ quản lý, mà còn là môi trường tạo lập, phân bổ và phát huy các nguồn lực phát triển. Một thể chế minh bạch, ổn định và hiện đại có khả năng giảm chi phí giao dịch, bảo đảm quyền tài sản, khuyến khích cạnh tranh lành mạnh và thúc đẩy đổi mới sáng tạo.
“Bản chất sâu xa của giải phóng nguồn lực là giải phóng thể chế. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng xác định, hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển là một trong những đột phá chiến lược hàng đầu, điều đó không chỉ nhằm hoàn thiện khung khổ quản lý nhà nước, mà còn hướng tới xây dựng một môi trường phát triển, trong đó mọi nguồn lực được lưu thông thông suốt, được phân bổ theo tín hiệu thị trường và được sử dụng hiệu quả nhất. Thể chế minh bạch, ổn định, hiện đại và thân thiện với đổi mới sáng tạo không chỉ tạo điều kiện cho các nguồn lực hiện có được sử dụng hiệu quả hơn mà còn tạo ra những nguồn lực mới cho phát triển”, PGS.TS. Vũ Trọng Lâm nhấn mạnh.
Cùng chung quan điểm này, GS.TS. Trần Văn Phòng, nguyên Viện trưởng Viện Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh nhấn mạnh, Đại hội XIV chủ trương tiếp tục xây dựng và hoàn thiện toàn diện, đồng bộ thể chế: “Trong đó thể chế chính trị là then chốt, thể chế kinh tế là trọng tâm, các thể chế khác là quan trọng”.
Theo GS.TS. Trần Văn Phòng, điểm mới của quan điểm này thể hiện ở ba phương diện: tính tổng thể, tính ưu tiên phân tầng và tính minh bạch của pháp quyền quản trị. Khác với cách nhìn rời rạc, thể chế phát triển toàn diện gắn kết chặt chẽ các lĩnh vực phát triển. Hoàn thiện thể chế không chỉ là sửa đổi luật pháp rời rạc mà là xây dựng đồng bộ các trụ cột chính trị, kinh tế, pháp luật, hành chính, xã hội, khoa học và công nghệ.
Việc xác định thể chế chính trị là then chốt đặc biệt nhấn mạnh vai trò, năng lực lãnh đạo và đổi mới phương thức tổ chức hoạt động, cơ chế ra quyết định, kiểm soát quyền lực và bảo đảm ổn định chính trị. Đây không chỉ là giải pháp kỹ thuật mà là đổi mới tư duy lãnh đạo của Đảng theo hướng hiện đại, minh bạch, khả năng thích ứng, tính thực chất và tính hiệu quả cao.
Khi xác định thể chế kinh tế là trọng tâm đã phản ánh nhận thức sâu sắc rằng, chất lượng tăng trưởng, hiệu quả, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của nền kinh tế phụ thuộc trực tiếp vào vận hành của cơ chế kinh tế, đặc biệt là cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; cơ chế huy động và phân bổ các nguồn lực cho phát triển; cơ chế tạo lập môi trường kinh doanh và chính sách vĩ mô phát triển bền vững.
GS.TS. Trần Văn Phòng cho rằng, xác định thể chế kinh tế là trọng tâm không có nghĩa xem nhẹ các thể chế khác. Việc nhấn mạnh các thể chế khác là quan trọng cho thấy sự đổi mới thể chế về giáo dục, y tế, khoa học - công nghệ, bảo vệ môi trường,… đều góp phần quyết định sức mạnh, chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh trong phát triển bền vững.
Tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế là yêu cầu cấp thiết trước mắt và là nhiệm vụ có ý nghĩa lâu dài đối với quá trình phát triển đất nước. Khi thể chế được hoàn thiện theo hướng đồng bộ, minh bạch, hiệu quả, các nguồn lực trong xã hội sẽ có thêm không gian để được giải phóng, huy động và phát huy. Đây cũng là cơ sở quan trọng để Việt Nam khơi dậy mạnh mẽ các động lực phát triển, nâng cao năng suất, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và tạo nền tảng vững chắc cho mục tiêu phát triển nhanh, bền vững trong giai đoạn mới.
“Thể chế phát triển toàn diện gắn kết chặt chẽ các lĩnh vực phát triển. Hoàn thiện thể chế không chỉ là sửa đổi luật pháp rời rạc mà là xây dựng đồng bộ các trụ cột chính trị, kinh tế, pháp luật, hành chính, xã hội, khoa học và công nghệ”, GS.TS. Trần Văn Phòng, nguyên Viện trưởng Viện Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.









