Đây là nội dung được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đưa ra tại buổi làm việc mới đây về Chiến lược quốc gia thu hút, trọng dụng và phát triển nhân tài. Xoay quanh vấn đề làm thế nào để hiện thực hóa chiến lược này, đặc biệt là trong việc đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao khối ngành khoa học - kỹ thuật, phóng viên Báo Điện tử Tiếng nói Việt Nam đã có cuộc trao đổi với PGS.TS Huỳnh Quyết Thắng, Phó Giám đốc Đại học Bách khoa Hà Nội, Đại biểu Quốc hội khóa XVI thuộc Đoàn Hà Nội.

PV: Thưa ông, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, thu hút nhân tài là nội dung trọng tâm được Đảng, Nhà nước đặc biệt chú trọng. Thời gian qua, Chính phủ đã có chính sách hỗ trợ học bổng, chi phí học tập cho những ngành khoa học mũi nhọn. Ông đánh giá thế nào về giải pháp này và chúng ta cần thêm những giải pháp gì để thúc đẩy các ngành khoa học, kỹ thuật mũi nhọn hiện nay?
PGS.TS Huỳnh Quyết Thắng: Để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong các ngành khoa học mũi nhọn, các giải pháp đưa ra phải rất đồng bộ. Thực tế, với các em học sinh, đặc biệt là học sinh ở nông thôn, việc theo học các ngành kỹ thuật mũi nhọn gặp rào cản về tài chính. Các ngành này đòi hỏi đầu tư sâu về máy móc, trang thiết bị, do đó chi phí đào tạo thường đắt hơn, kéo theo học phí tại các đại học cũng cao hơn so với các ngành ít cần đầu tư cơ sở vật chất.
Điều này dẫn tới thực trạng là nhiều em dù có năng lực, đam mê nhưng gia đình không thể kham nổi chi phí học tập, dù các trường luôn có cơ chế học bổng hỗ trợ. Vì vậy, việc Nhà nước cấp một nguồn học bổng (tạm gọi là học bổng Chính phủ) để hỗ trợ trực tiếp cho những sinh viên tài năng này là một giải pháp rất đúng đắn, tạo ra niềm tin cho các em rằng: Đất nước đang phát triển dựa trên công nghệ, và những người làm công nghệ đang được Nhà nước ưu tiên, thu hút để phát triển quốc gia.
Tuy nhiên, học bổng mới chỉ là một giải pháp, không phải là tất cả. Vấn đề tiếp theo là làm thế nào để các trường đại học luôn được đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị tốt nhất. Sinh viên giỏi cần một môi trường học tập, nghiên cứu và thực hành hiện đại. Các trường đại học công lập top đầu của Việt Nam rất cần sự đầu tư theo phương châm "Nhà nước và nhân dân cùng làm" để kiến tạo môi trường học thuật tiệm cận chuẩn quốc tế. Có như vậy, chúng ta mới tiến kịp các nước trong khu vực và trên thế giới.
Thị trường lao động là "lực kéo" tự nhiên nhất
PV: Như ông vừa phân tích, học bổng là chưa đủ. Để thu hút học sinh đến với các ngành khoa học, công nghệ, việc đảm bảo đầu ra, kết nối việc làm và dự báo đúng nhu cầu của thị trường lao động đóng vai trò ra sao, thưa ông?
PGS.TS Huỳnh Quyết Thắng: Ở bậc giáo dục phổ thông, Nhà nước hướng tới mục tiêu phổ cập, miễn học phí để chăm lo cho toàn dân. Nhưng giáo dục đại học lại vận hành theo một logic khác – logic của thị trường. Nghĩa là các cơ sở đào tạo dạy ngành gì, trang bị kỹ năng gì cho người học, đều phải xuất phát từ nhu cầu thực sự của xã hội, mà cụ thể là của doanh nghiệp, của các cơ quan, tập đoàn đang cần nguồn nhân lực đó.
Chính vì vậy, muốn thu hút được người học vào các ngành khoa học mũi nhọn, muốn phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho những lĩnh vực này, chúng ta cần đồng thời ba yếu tố: đầu vào tốt, môi trường đào tạo tốt, và một thị trường lao động đủ hấp dẫn để các em nhìn thấy tương lai của mình. Khi các tập đoàn quốc tế đến Việt Nam đầu tư, hay khi các tập đoàn lớn trong nước vươn ra biển lớn, họ đều cần đến đội ngũ nhân lực giỏi này – và đó chính là "lực kéo" tự nhiên nhất.
Đây cũng là lúc mô hình "Ba nhà" – Nhà nước, nhà trường, doanh nghiệp – mà Đảng, Quốc hội, Chính phủ đã đặt ra, phát huy vai trò hết sức quan trọng. Và người hưởng lợi lớn nhất từ sự liên kết ấy, không ai khác, chính là sinh viên. Nhà nước giữ vai trò đầu tư, điều phối chính sách dựa trên những ngành nghề, công nghệ chiến lược mà đất nước đang theo đuổi; Nhà trường chịu trách nhiệm về chất lượng đào tạo; còn Doanh nghiệp chính là nơi đặt hàng, là đầu ra cho cả quá trình đó.
PV: Thực tế những năm gần đây, tỷ lệ thí sinh lựa chọn khối ngành tự nhiên, kỹ thuật vẫn thấp hơn nhiều so với khối ngành xã hội. Việc định hướng, ươm mầm năng khiếu khoa học công nghệ từ sớm nên được thực hiện ra sao, thưa ông?
PGS.TS Huỳnh Quyết Thắng: Đứng ở góc độ một người làm việc trong môi trường đại học, tôi cho rằng công tác hướng nghiệp từ bậc phổ thông là cực kỳ quan trọng, thậm chí phải nói là mang tính quyết định. Tại Đại học Bách khoa Hà Nội, chúng tôi có Ban Tuyển sinh và Hướng nghiệp hoạt động rất tích cực, bởi các em học sinh, các vị phụ huynh cần được biết rõ ràng, cụ thể: học ngành này ra trường sẽ làm gì, làm ở đâu, tương lai nghề nghiệp ra sao – chứ không phải chọn trong sự mơ hồ.
Là một người thầy, tôi luôn tin rằng khi các em được làm đúng nghề mình đam mê, các em sẽ phát triển rất tốt. Ngược lại, chọn sai nghề sẽ là một sự lãng phí vô cùng lớn – lãng phí thời gian, công sức, và cả tuổi trẻ. Ở một số nước châu Âu, theo tôi được biết tỷ lệ sinh viên chuyển ngành sau năm thứ nhất của một số trường đại học có thể lên tới 40-50%. Họ chấp nhận điều đó như một phần tự nhiên của quá trình học tập: sau học kỳ một, nếu thấy chưa phù hợp, sinh viên hoàn toàn có thể chuyển sang ngành khác đúng với năng lực và sở thích của mình hơn.
Nếu chúng ta làm tốt công tác hướng nghiệp từ sớm, giúp các em nhận ra đam mê và chọn đúng ngay từ đầu, thì gia đình sẽ tiết kiệm được tiền bạc, đất nước tiết kiệm được thời gian, và quan trọng hơn cả – các em sẽ không phải đánh đổi tuổi trẻ của mình cho những lựa chọn sai lầm. Bởi tôi tin rằng, sự lựa chọn đúng đắn cộng với đam mê mãnh liệt chính là công thức tạo ra nhân tài. Chúng tôi đã chứng kiến rất nhiều sinh viên của Đại học Bách khoa Hà Nội theo học các ngành Công nghệ thông tin, Trí tuệ nhân tạo... và chính nhờ niềm đam mê từ rất sớm ấy, hôm nay họ đã thực sự trở thành những nhân tài của đất nước.
Nhân lực trẻ Việt Nam đang thiếu "sự thách thức" và "đặt hàng"
PV: Ông đánh giá thế nào về chất lượng nguồn nhân lực khoa học kỹ thuật của Việt Nam hiện nay? Chúng ta đang có thế mạnh gì và còn thiếu hụt điều gì, thưa ông?
PGS.TS Huỳnh Quyết Thắng: Về mặt tích cực, tôi phải khẳng định người Việt Nam có tố chất thông minh, học sinh phổ thông của chúng ta học rất giỏi. Lớp trẻ hiện nay, xét về mặt kiến thức cốt lõi, không hề thua kém bạn bè trong khu vực và trên thế giới, thậm chí ở nhiều mặt còn vượt trội.
Tuy nhiên, nhìn thẳng vào vấn đề, nguồn nhân lực trẻ của chúng ta đang thiếu ba yếu tố: thiếu sự thách thức, thiếu sự "đặt hàng", và thiếu sự "mạnh dạn giao việc".
Các doanh nghiệp, các cơ quan quản lý Nhà nước cần mạnh dạn hơn nữa trong việc giao việc, đặt hàng các trường đại học giải quyết những bài toán lớn của thực tiễn. Bởi nghiên cứu khoa học chưa bao giờ là câu chuyện của 1-2 năm – có những sản phẩm phải mất 5-10 năm theo đuổi, đòi hỏi một sức ép rất lớn về tiến độ và thời gian. Chính quá trình đầy thử thách ấy sẽ đào thải những người dễ bỏ cuộc, và tôi luyện nên những nhân tài thực thụ.
Nói rộng hơn, để tạo ra những công trình thực sự phục vụ xã hội, chúng ta cần một "hệ sinh thái" (ecosystem) đủ bền bỉ. Và phải thẳng thắn nhìn nhận rằng, sự bền bỉ trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo ở Việt Nam hiện nay vẫn còn thiếu.
Đây là lúc chúng ta cần tập trung mọi nguồn lực, mọi sự quyết tâm để biến tinh thần của Nghị quyết 57 thành hành động cụ thể. Khi việc triển khai và thực thi được đẩy mạnh, hệ sinh thái đổi mới sáng tạo mà chúng ta đang thiếu sẽ dần được kiến tạo một cách bài bản. Và khi đó, chính nguồn nhân lực trẻ, thông minh, đầy đam mê của Việt Nam sẽ có đủ điều kiện để bứt phá, để không chỉ đuổi kịp mà còn vươn lên sánh vai với khu vực và thế giới.
PV: Để nâng tầm số lượng và chất lượng nhân lực khoa học kỹ thuật trong kỷ nguyên mới, theo ông, chúng ta cần thêm những giải pháp chính sách đột phá nào?
PGS.TS Huỳnh Quyết Thắng: Gần đây, chúng ta đã có nhiều chính sách mạnh mẽ để thu hút người tài, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt ở các lĩnh vực mũi nhọn – điển hình như cấp học bổng cho sinh viên giỏi và nghiên cứu sinh. Đó là những chính sách rất đáng quý. Nhưng ở góc độ một người làm giáo dục đại học, tôi cho rằng điều quan trọng hơn cả là phải tạo ra được một môi trường nghiên cứu thực sự tốt – thậm chí là môi trường nghiên cứu kết hợp giữa các đại học Việt Nam với các mô hình tiên tiến trên thế giới, quản trị theo chuẩn đầu ra, theo kết quả thu được, để từ đó tạo ra những sản phẩm đích thực phục vụ cuộc sống, đồng thời nâng tầm học thuật và nghiên cứu của Việt Nam.
Để làm được điều này, Nhà nước cần đầu tư mạnh mẽ hơn nữa cho cơ sở vật chất và môi trường nghiên cứu tại các trường đại học, đặc biệt là khối kỹ thuật và y tế. Phải nói thẳng, hiện nay nguồn thu từ học phí mới chỉ đủ để lo đời sống, chế độ cho giảng viên. Còn để có được một môi trường học thuật tầm cỡ, máy móc hiện đại phục vụ nghiên cứu thực chất, thì rất cần sự đầu tư trực tiếp từ Nhà nước. Song song với đó, bản thân các trường đại học cũng phải tự đổi mới mình – quản trị theo chuẩn đầu ra, thậm chí mạnh dạn kết hợp với các mô hình quốc tế.
Bên cạnh đó, nghiên cứu khoa học nhất định phải gắn với thực tiễn thông qua các "đơn đặt hàng" cụ thể. Nghiên cứu không thể chỉ nằm trên giấy, trong các báo cáo nghiệm thu, mà phải giải được những bài toán đặt ra từ cuộc sống, trở thành những sản phẩm có chỗ đứng thực sự trên thị trường – vừa mang lại giá trị kinh tế cốt lõi, vừa nâng tầm vị thế học thuật của Việt Nam trên bản đồ khoa học thế giới.
Và để làm được cả hai điều này, không thể thiếu vai trò kiến tạo của Nhà nước, cùng với sự đồng hành, đầu tư và hợp tác chặt chẽ từ các tập đoàn, doanh nghiệp lớn.
PV: Xin trân trọng cảm ơn ông về cuộc trao đổi này!








