
Nghị quyết số 26-NQ/TW về phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới đã đặt ra những mục tiêu rất lớn cho ngành du lịch Việt Nam trong giai đoạn tới. Từ mốc tổng thu khoảng 40 tỷ USD vào năm 2025, mục tiêu đến năm 2030 tổng thu từ khách du lịch đạt 80 - 90 tỷ USD và phấn đấu đón 45 - 50 triệu lượt khách quốc tế.
Theo các chuyên gia, để đạt những mục tiêu đề ra, ngành du lịch, các địa phương và cộng đồng doanh nghiệp phải thực sự đổi mới tư duy, cách tiếp cận và cách làm để chuyển đổi mô hình tăng trưởng và phương thức quản trị du lịch từ "số lượng" sang "chất lượng", nâng cao giá trị gia tăng cho nền kinh tế. Trong đó, du lịch vận hành như một ngành kinh tế thực sự, dựa trên các quy luật cung - cầu thị trường, tính toán chính xác hiệu quả đầu tư và tối ưu hóa chuỗi giá trị.

4 câu hỏi đặt ra cho mỗi điểm đến
Theo PGS.TS Bùi Hoài Sơn, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương, muốn đạt mục tiêu 80 - 90 tỷ USD, ngành du lịch Việt Nam cần chuyển trọng tâm từ “làm sao để khách đến” sang “làm sao để mỗi chuyến đi tạo ra nhiều giá trị hơn”.
“Bài toán này có thể hình dung đơn giản bằng 4 câu hỏi cụ thể: Việt Nam có lý do đủ mạnh để du khách đến không? Có đủ trải nghiệm để họ ở lại lâu hơn không? Có đủ sản phẩm đáng mua để họ chi tiêu nhiều hơn không? Và, có đủ điều mới mẻ để họ muốn quay lại không?” - PGS.TS Bùi Hoài Sơn chia sẻ.
Muốn khách ở lâu, điểm đến phải có một hệ sinh thái trải nghiệm chứ không chỉ có một vài danh thắng. Ban ngày họ có thể tham quan di sản, bảo tàng, làng nghề, thiên nhiên; buổi tối phải có ẩm thực, biểu diễn nghệ thuật, mua sắm, lễ hội ánh sáng, phố đi bộ, sự kiện và những trải nghiệm văn hóa đặc sắc. Mỗi điểm đến cần hình thành lịch sự kiện quanh năm để khắc phục tính mùa vụ và tạo thêm lý do lưu trú.
Muốn khách chi tiêu nhiều, Việt Nam phải biến văn hóa thành sản phẩm có giá trị. Việt Nam có kho tàng di sản, ẩm thực, thủ công mỹ nghệ, nghệ thuật biểu diễn, câu chuyện lịch sử và đời sống đương đại rất phong phú, nhưng phần lớn giá trị ấy chưa được chuyển hóa thành sản phẩm sáng tạo, quà tặng, thiết kế, trình diễn, trải nghiệm và tài sản trí tuệ có sức mua cao. Nếu du khách chỉ chụp ảnh rồi rời đi, điểm đến có thể đông nhưng giá trị thu được không tương xứng.
Sản phẩm càng gắn với cộng đồng địa phương thì trải nghiệm càng khó sao chép. Một bữa ăn có câu chuyện, một làng nghề có nghệ nhân trực tiếp kể chuyện, một đêm diễn dựa trên ký ức của vùng đất hay một món quà được thiết kế từ di sản có thể tạo ra giá trị lớn hơn nhiều so với việc bán tài nguyên thô. Đó chính là con đường để du lịch Việt Nam chuyển từ lợi thế “đẹp và rẻ” sang lợi thế “độc đáo, chất lượng và đáng nhớ”.

Du lịch cần vận hành theo thị trường
Các chuyên gia cho rằng, để trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, du lịch cần được vận hành như một ngành kinh tế thực sự, dựa trên các quy luật cung - cầu thị trường, được đầu tư tương xứng, và các sản phẩm du lịch cũng phải được đóng gói và quảng cáo hiệu quả tới từng phân khúc thị trường khác nhau.
Theo PGS.TS Phạm Trương Hoàng (Trưởng khoa Du lịch và Khách sạn, Đại học Kinh tế Quốc dân), về nguồn cung, hiện nay hệ thống khách sạn, resort và các tổ hợp dịch vụ - giải trí, cũng như cơ sở hạ tầng khác liên quan đến ngành du lịch được đầu tư mạnh mẽ ở nhiều điểm đến như Phú Quốc, Vân Đồn, Nha Trang, Đà Nẵng, Phan Thiết... Thực tế cho thấy, Phú Quốc là một thành công điển hình, khi các yếu tố cung - cầu được tính toán hợp lý và kết hợp đồng bộ với đầu tư hạ tầng, từ mở rộng kết nối hàng không, chính sách visa linh hoạt cho đến việc phát triển nguồn cung dịch vụ chất lượng cao.
Nghị quyết số 26-NQ/TW đã chỉ ra việc dành quỹ đất và thu hút các nhà đầu tư chiến lược, các doanh nghiệp có năng lực tài chính, công nghệ và kinh nghiệm quản trị tham gia phát triển các dự án động lực, khu phức hợp du lịch - văn hoá - thể thao - giải trí - mua sắm, khu nghỉ dưỡng chăm sóc sức khoẻ, cơ sở lưu trú du lịch chất lượng cao, quy mô lớn.
Điều này mở ra cơ hội huy động và sử dụng nguồn lực đất đai nhằm mục đích phát triển du lịch một cách hiệu quả và mang lại giá trị kinh tế cao hơn. Trong đó có thể tính đến phát triển các “điểm đến vệ tinh” quanh trung tâm du lịch lớn nhằm giảm tải cho vùng lõi, đồng thời lan tỏa tác động kinh tế du lịch đến khu vực rộng lớn hơn. Tuy nhiên, việc giao đất, cấp phép dự án phải gắn liền với năng lực khai thác thực tế của doanh nghiệp, có cơ chế kiểm soát chặt chẽ, tính toán chính xác hiệu quả đầu tư và tối ưu hóa chuỗi giá trị nhằm tránh gây lãng phí và bảo vệ tài nguyên du lịch quốc gia.

Bên cạnh hạ tầng cứng, ngành du lịch muốn bứt phá cần được đầu tư cho "hạ tầng mềm", như đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao hiệu quả các chiến lược, quy hoạch và năng lực quản lý nhà nước. Cần có cơ chế tài chính để khuyến khích doanh nghiệp phát triển và cập nhật sản phẩm sao cho bám sát diễn biến và xu hướng thị trường. Trong đó, Nhà nước có thể đầu tư hoặc hỗ trợ, khen thưởng bằng tiền cho doanh nghiệp, hoặc ban hành chính sách ưu đãi riêng cho du lịch MICE.
Nhìn từ góc độ kinh tế, một sản phẩm tốt cần phải được quảng cáo tốt tại đúng thị trường mục tiêu. Hiện nay xu hướng du lịch tự túc đang phát triển rất mạnh, đây cũng là dòng khách có khả năng chi tiêu “hào phóng”, do đó việc quảng cáo về sản phẩm du lịch Việt Nam đòi hỏi sự tiếp cận chủ động. Việt Nam rất cần thành lập các văn phòng xúc tiến du lịch tại các thị trường trọng điểm để hiểu rõ thị trường, từ đó xây dựng chiến lược truyền thông lâu dài và phù hợp, đặc biệt là trên các nền tảng trực tuyến, mạng xã hội đặc thù như tại Trung Quốc hay Hàn Quốc.
“Để làm được điều này, chuyển đổi số du lịch phải đi vào thực chất. Dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo cần giúp chúng ta biết khách nào đang đến, họ tìm gì, chi tiêu ở đâu, vì sao họ rời đi và điều gì khiến họ quay lại. Quảng bá du lịch phải chuyển từ chiến dịch chung chung sang tiếp cận đúng thị trường, đúng phân khúc, đúng thời điểm”, PGS.TS Bùi Hoài Sơn phân tích.
Quan trọng hơn, mọi sự đầu tư chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi có nguồn lực con người đủ chiều sâu. Việc đầu tư cho nguồn nhân lực du lịch đòi hỏi phải đạt chiều sâu chuyên môn, đào tạo bài bản đội ngũ lao động đáp ứng chuẩn quốc tế để phục vụ phân khúc du lịch chất lượng cao, bởi con người chính là yếu tố trực tiếp quyết định chất lượng dịch vụ và mức độ hài lòng của du khách.
Tóm lại, Nhà nước kiến tạo thể chế và hạ tầng; doanh nghiệp tạo sản phẩm và thị trường; cộng đồng tạo nên bản sắc và chất lượng trải nghiệm. Khi 3 chủ thể ấy cùng nhìn về một mục tiêu, Việt Nam mới có thể tạo ra bước nhảy về năng suất và giá trị của ngành du lịch.
| “Muốn khách quay lại, chất lượng dịch vụ phải ổn định và điểm đến phải có cái mới. Một du khách từng đến Hà Nội, Huế, Đà Nẵng hay Phú Quốc phải có lý do quay lại đó sau 2 - 3 năm vì có sản phẩm mới, sự kiện mới, không gian mới, trải nghiệm mới. Sự thuận tiện cũng rất quan trọng với du khách quốc tế: Thủ tục nhập cảnh, kết nối hàng không, giao thông tại điểm đến, thanh toán, biển chỉ dẫn đa ngôn ngữ, thông tin minh bạch, vệ sinh, an toàn và thái độ phục vụ đều ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định chi tiêu và quay lại”, PGS.TS Bùi Hoài Sơn |








