
Hơn 34 triệu Sổ sức khỏe điện tử được tạo lập trên VNeID
Từ năm 2026, các địa phương trên cả nước triển khai khám sức khỏe định kỳ hoặc khám sàng lọc miễn phí cho người dân ít nhất mỗi năm 1 lần theo Nghị quyết số 72-NQ/TW ngày 9/9/2025 của Bộ Chính trị.
Sau một thời gian thực hiện, theo Bộ Y tế, kết quả quả bước đầu cho thấy chủ trương khám sức khỏe định kỳ hoặc khám sàng lọc miễn phí cho người dân đã được các địa phương quan tâm và tích cực tổ chức thực hiện. Tuy nhiên, tiến độ triển khai giữa các địa phương còn chưa đồng đều.
Sự khác biệt về tỷ lệ thực hiện bước đầu phản ánh điều kiện, phương thức tổ chức, khả năng huy động nguồn lực và tiến độ xây dựng kế hoạch của từng địa phương; đồng thời đây là giai đoạn đầu triển khai một chính sách có quy mô lớn, phạm vi toàn dân, cần có thời gian để hoàn thiện cơ chế tổ chức thực hiện.

Theo Bộ Y tế, một số địa phương cho thấy bước đầu đạt kết quả tích cực như: Đồng Tháp, Cà Mau, Thái Nguyên, Đắk Lắk, Lâm Đồng, Phú Thọ, Điện Biên, Bắc Ninh, Đồng Nai, Đà Nẵng, Hải Phòng, Khánh Hòa…Bên cạnh đó, một số địa phương vẫn còn tình trạng người dân chưa tham gia hoặc tham gia chưa đầy đủ.
Về công tác thu thập, cập nhật, kết nối liên thông dữ liệu khám sức khỏe và tạo lập Sổ sức khỏe điện tử trên ứng dụng VneID, Bộ Y tế cho biết tiếp tục được lồng ghép trong quá trình tổ chức khám sức khỏe định kỳ, từng bước hình thành cơ sở dữ liệu sức khỏe người dân phục vụ quản lý, theo dõi và chăm sóc sức khỏe liên tục.
Theo báo cáo của các địa phương gửi Bộ Y tế đến ngày 16/9/2026, Tổng số người đã có Sổ Sức khỏe điện tử (SSKĐT) trên ứng dụng VNeID là 34.023.412 (Thông qua Cổng dữ liệu sức khỏe của Bộ Y tế đã có 8.759.966 phiếu khám sức khỏe của người dân, số tài khoản đã được cấp là 12.293 cơ sở, trong đó có 4.721 cơ sở thực hiện liện thông dữ liệu, tổng hồ sơ trong năm: 8.759.966, Số người dân có Sổ SKĐT trên VNeID: 34.023.412).
Nhiều điểm nghẽn cần tháo gỡ
Bên cạnh kết quả đạt được, Bộ Y tế cho biết vẫn còn nhiều khó khăn vướng mắc cần tháo gỡ. Đó là chưa thống nhất đầy đủ về nguồn kinh phí. Bởi chính sách khám sức khỏe định kỳ miễn phí cho tất cả người dân ít nhất 1 lần/năm, nên nhu cầu kinh phí rất lớn. Việc xác định rõ trách nhiệm chi trả giữa ngân sách nhà nước, quỹ BHYT và các nguồn lực hợp pháp khác, cũng như phạm vi dịch vụ do từng nguồn kinh phí bảo đảm cần tiếp tục hoàn thiện để tránh bỏ sót hoặc thanh toán trùng đối tượng.
Khó khăn trong việc xác định phạm vi, nội dung và danh mục khám. Mỗi nhóm đối tượng có đặc điểm khác nhau theo độ tuổi, giới tính, yếu tố nguy cơ, tiền sử bệnh và tình trạng sức khỏe. Vì vậy, việc xây dựng danh mục dịch vụ kỹ thuật khám sức khỏe định kỳ cần phân loại theo từng nhóm đối tượng. Nhóm trẻ em cần ưu tiên các dịch vụ kỹ thuật đánh giá về tăng trưởng, phát triển tinh thần, vận đồng…trong khi đó nhóm người cao tuổi cần quan tâm đến các dịch vụ kỹ thuật đánh giá chức năng tim mạch, đường huyết…
Đối với các đối tượng được thanh toán chi phí khám sức khỏe định kỳ từ Quỹ bảo hiểm y tế cũng cần quy định rõ mức thanh toán và danh mục dịch vụ kỹ thuật khám sức khỏe định kỳ. Nếu danh mục dịch vụ kỹ thuật quá rộng sẽ làm tăng kinh phí thực hiện, nhân lực và trang thiết bị, nếu danh mục dịch vụ kỹ thuật quá hẹp hạn chế khả năng phát hiện sớm bệnh tật và các yếu tố nguy cơ.
Năng lực của y tế cơ sở chưa đồng đều. Chính sách khám sức khỏe định kỳ miễn phí cho người dân ít nhất 1 lần mỗi năm được triển khai trên phạm vi toàn quốc. Năng lực thực hiện giữa các địa phương, đặc biệt giữa khu vực đô thị và vùng sâu, vùng xa, miền núi, biên giới, hải đảo, còn có sự khác biệt. Năng lực xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh tại một số cơ sở còn hạn chế. Thiếu nhân lực y tế tại vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Hạ tầng công nghệ thông tin và việc liên thông dữ liệu Sổ sức khỏe điện tử tại một số địa phương chưa đáp ứng yêu cầu.
Do đó, cần có sự đánh giá, phân cấp chuyên môn kỹ thuật phù hợp tránh quá tải khi triển khai thực hiện khám sức khỏe định kỳ miễn phí cho người dân tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cấp chuyên sâu. Đồng thời cần có sự kiểm soát chất lượng, kiểm soát chỉ định các dịch vụ kỹ thuật phù hợp, hạn chế các chỉ định không cần thiết để bảo đảm tiết kiệm, cân đối ngân sách.








